Lịch sử báo chí cho thấy, mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều làm thay đổi phương thức tác nghiệp của người viết theo hướng tiện hơn, đỡ tốn công sức hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Nó là cơ sở để báo chí thực hiện tốt hơn sứ mệnh truyền đạt thông tin, sự thật, trách nhiệm xã hội đến với công chúng. Ví dụ, khi máy ảnh phim còn làm mưa làm gió thì để có một bức ảnh đăng báo thường mất nhiều thời gian và công sức. Nhưng từ khi có máy ảnh kỹ thuật số cộng với sự phát triển của internet thì chỉ vài chục phút sau sự kiện, tòa soạn ở cách xa cả nghìn ki-lô-mét đã nhận được ảnh phóng viên gửi về từ hiện trường.

Trước đây, khi internet và công nghệ máy tính xâm nhập vào cuộc sống thì trong làm báo, viết văn, dư luận cũng đặt vấn đề về đạo đức người cầm bút. Họ cho rằng, copy-paste sẽ làm cho con người lười suy nghĩ và có tình trạng trộm cắp kết quả nghiên cứu, thông tin từ bài báo của người khác. Thực tế đã xảy ra hiện tượng phóng viên copy thông tin năm cũ của sự kiện mới cùng tính chất, nhưng sửa không hết nội dung dẫn đến sai sót.

leftcenterrightdel

Minh họa: LÊ ANH

Và đến nay, việc lạm dụng AI cũng không ngoại lệ. Chị bạn tôi làm thư ký tòa soạn của một tờ báo cấp bộ kể rằng, một người trẻ mới vào nghề không lâu đã sử dụng AI để viết bài và được đăng. Anh ta rất hãnh diện vì đã có một phương tiện hữu ích. Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện bài báo có những thông tin không đúng và dùng AI để viết thì anh ta rất xấu hổ, ân hận.

Gần đây, từ khi AI phát triển, trong các cuộc cà phê vỉa hè, chúng tôi gặp không ít câu chuyện người viết dùng AI để sao chép, tổng hợp hoặc “xào nấu” sản phẩm của người khác thành tác phẩm của mình nhằm giảm công sức lao động. Họ xem đó là thành quả sáng tạo cá nhân. Thậm chí có trường hợp sử dụng hình ảnh, âm thanh hoặc dữ liệu do AI tạo ra để tạo cảm giác chân thực, gây tác động cảm xúc hoặc định hướng dư luận theo mục đích riêng.

Là một người làm báo, sau khi tiếp cận với AI, tôi nhận thấy AI có thể hỗ trợ rất tốt ở khâu xử lý tri thức. Nếu đầu vào là dữ liệu chính xác, đầy đủ và được kiểm chứng, AI có thể giúp người viết phân tích, tổng hợp và trình bày thông tin một cách nhanh chóng. Nhưng AI không thể thay thế được người viết trong phát hiện vấn đề, điều tra hiện trường, tiếp xúc nhân vật hay kiểm chứng sự thật. Đó là những công việc đòi hỏi trải nghiệm thực tế, bản lĩnh nghề nghiệp, kỷ luật và trách nhiệm xã hội của người viết.

Cũng trong nghiên cứu về ChatGPT, Gemini và nhiều AI khác, tôi nhận thấy các sản phẩm AI tạo ra thường không có đặc trưng văn hóa Việt Nam, không trải nghiệm lịch sử dân tộc, không cảm nhận được những sắc thái tâm lý đặc thù của xã hội Việt Nam. Bởi nguyên nhân đơn giản là nó được tạo ra từ một đất nước, một nền văn hóa khác.

Trong môi trường truyền thông cạnh tranh khốc liệt, tốc độ luôn là áp lực thường trực. Nhiều người bị cuốn vào cuộc đua đăng tin nhanh, xuất bản sớm nhất mà hời hợt, bỏ quên tính chính xác trong thông tin. AI có thể tạo ra những thông tin nghe rất thuyết phục, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Nếu người làm báo phó mặc việc kiểm chứng cho máy móc thì nguy cơ sai sót là rất lớn.

Trong nghề báo, thông tin sai sót đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, rất đa dạng. Nhưng dù sai do đâu thì cũng có thể làm tổn hại danh dự của cá nhân, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và gây tác động tiêu cực tới xã hội.

Cạnh đó, việc lệ thuộc vào AI trong viết báo dẫn đến nhiều hệ lụy. Nó có thể tạo ra tâm lý lười suy nghĩ, lười phát hiện vấn đề và lười dấn thân vào thực tiễn. Một nhà báo quen để máy móc làm thay công việc tư duy sẽ dần đánh mất năng lực nghề nghiệp của chính mình. Khi ấy, việc lạm dụng công nghệ là biểu hiện của động cơ nghề nghiệp không trong sáng.

Nếu là người viết chuyên nghiệp thì ai cũng biết rằng, yêu cầu tối thiểu của một sản phẩm báo chí là phải có thông tin, có tính thời sự và là những vấn đề nóng hổi dư luận quan tâm. Ngoài ra, bài báo ra đời phải trả lời được câu hỏi sự kiện hoặc vấn đề ấy có ý nghĩa thế nào đối với đất nước, đối với xã hội và đối với con người Việt Nam. Đó là công việc đòi hỏi tri thức, vốn sống, kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, nền tảng văn hóa và trách nhiệm công dân mà thuật toán không thể thay thế.

Điều này đặt ra một nguyên tắc tối thiểu với người viết chuyên nghiệp, đó là không dùng các sản phẩm do AI tạo ra (văn bản, hình ảnh, âm thanh và video) không có kiểm chứng để đăng báo. Bởi những sản phẩm đó rất dễ sai sót, không đúng sự thật. Nếu cố tình đăng tải trên báo chí thì đó là hành vi đánh lừa công chúng, ngụy tạo hiện thực hoặc che giấu nguồn gốc thông tin. Đây chính là hành vi đi ngược lại đạo đức báo chí.

Thực tế cho thấy, trong mọi thời đại, điều làm nên giá trị của báo chí không phải là công nghệ mà là con người. AI có thể viết nhanh hơn con người nhưng không có lương tâm. AI có thể xử lý hàng triệu dữ liệu nhưng không biết đau trước nỗi đau của đồng bào, không biết trăn trở trước những bất công của xã hội và cũng không biết chịu trách nhiệm trước hậu quả của những thông tin sai lệch.

Bởi vậy, trong kỷ nguyên số, đạo đức nghề báo không hề mất đi giá trị mà ngược lại càng trở nên quan trọng hơn. Đó là cái gốc giúp người làm báo không bị lạc hướng giữa biển dữ liệu khổng lồ, giữa sức mạnh ngày càng lớn của công nghệ và giữa những cám dỗ của thời đại số.

Nhiều chuyên gia dự đoán, trong tương lai, công nghệ sẽ tiếp tục phát triển. AI sẽ ngày càng thông minh hơn. Thế nên, việc áp dụng AI trong viết, sản xuất báo chí sẽ mở ra nhiều cơ hội nâng cao hiệu suất tác nghiệp. Nhưng để ứng dụng AI vào sản xuất báo chí thì cần xây dựng cơ chế quản lý chặt chẽ.

Trước hết, cần xác định rõ nguyên tắc cốt lõi: AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò của nhà báo và không được đứng tên như một chủ thể tác nghiệp. Mọi sản phẩm báo chí có sự tham gia của AI đều phải do con người chịu trách nhiệm cuối cùng về nội dung, tính chính xác và đạo đức nghề nghiệp. Trên cơ sở đó, các cơ quan báo chí cần xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn hóa, trong đó quy định rõ từng công đoạn có thể sử dụng AI như hỗ trợ thu thập và xử lý dữ liệu, gợi ý dàn ý, tóm tắt tài liệu, đề xuất tiêu đề, nhưng không được tự động xuất bản mà chưa qua biên tập và kiểm chứng.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế kiểm chứng nhiều lớp nhằm hạn chế rủi ro sai lệch thông tin từ AI. Mọi dữ liệu do AI cung cấp phải được đối chiếu với nguồn chính thống hoặc xác minh từ phóng viên. Đồng thời, các tòa soạn cần ban hành bộ quy tắc đạo đức riêng về sử dụng AI, trong đó nhấn mạnh tính minh bạch, không tạo dựng thông tin giả, không sử dụng AI để bịa đặt trích dẫn hay nhân vật. Về tổ chức, cần đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên có kỹ năng sử dụng AI một cách chuyên nghiệp, đồng thời hình thành bộ phận phụ trách công nghệ báo chí số.

Cuối cùng, việc bảo đảm an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin phải được đặt lên hàng đầu, tránh rò rỉ thông tin nhạy cảm khi sử dụng các nền tảng AI công cộng. Cơ chế đồng bộ này sẽ giúp AI trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả, nâng cao chất lượng báo chí hiện đại mà vẫn giữ vững chuẩn mực nghề nghiệp.

Dù công nghệ AI có phát triển, thì trong làm báo, công nghệ này chỉ là công cụ hỗ trợ chứ không thể là chủ thể sáng tạo. Nhà báo mới là người quyết định góc nhìn, lựa chọn hệ giá trị và chịu trách nhiệm về thông điệp xã hội của tác phẩm. Chính từ đây, vấn đề đạo đức nghề báo trong kỷ nguyên số được đặt ra với những yêu cầu mới và cao hơn so với trước.

PHONG VÂN