Thu nằm giữa hạ và đông với trời xanh mây trắng nắng hanh, với gió heo may đợt đợt lá vàng, với mưa ngâu và tục đan áo rét, với hoàng hoa lưng giậu móc đọng sương sa, với gặt mùa rô đồng rau cải, với thóc nỏ rơm khô cơm mới cu cườm, với sông gầy và ao hồ phẳng lặng, với nhớ nhung hoài cảm muôn đời... Và vì thế, nó giàu sức lay động tâm can con người-đặc biệt làm tâm can nòi chí sĩ-vốn hay xao xuyến, hoan hỷ hay sầu thương trước ngoại cảnh sớm hơn thiên hạ!

Phương Đông là thế!

Thu Việt, thu Bắc Bộ là thế!

Mà phương Tây cũng vậy. Họ gọi mùa thu là mùa đẹp trời nhất trong năm!

Chả thế mà người ta lại viết: Mỗi năm, tiên nữ một lần/ Lỏng xiêm cho khách hồng trần thưởng thu!

***

Người Việt làm thơ để “cổ điển hóa” mùa thu Bắc Bộ sớm nhất chắc là Đức Nhân Tông nhà Trần:

Cầu hoa soi bóng lòng suối nhỏ

Bờ nước, tà dương rớt cuối thu

Rừng núi im lìm buông lá đỏ

Móc rơi, mây chở tiếng chuông chùa.

("Vũ Lâm chiều thu"-Đỗ Trung Lai dịch)

Sau đó là Huyền Quang:

Dạ héo, sông to không tưới hết

Hoa mai, ta vịnh đã trăm bài

Nay gặp thu buồn ngày tóc bạc

Ngâm mãi chưa xong trước cúc này!

 ("Hoa cúc", bài 2-Đỗ Trung Lai dịch)

Từ thơ thu cổ điển đến thơ thu cận-hiện đại, thu trong thơ ngày càng phong phú và cụ thể hơn.

Nguyễn Du viết trong "Truyện Kiều": Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

 Nguyễn Khuyến cho ta những mùa thu chiêm trũng:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

("Thu điếu"-Câu cá mùa thu)

Năm gian nhà cỏ thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?...

 ("Thu ẩm"-Uống rượu mùa thu)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

("Thu vịnh"-Vịnh mùa thu)   

Nguyễn Gia Thiều viết trong “Cung oán ngâm khúc”: Trải vách quế gió vàng hiu hắt/ Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng.

Tản Đà viết: Phòng văn ai kẻ vào ra/ Sương thu bốn giậu, trăng tà nửa hiên.

leftcenterrightdel

Trăng thu. Ảnh: NSNA PHẠM CÔNG THẮNG 

Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du, vì lấy truyện-điển tích Trung Hoa nhiều nên tính phương Đông nói chung trong thơ còn đậm nét. Đến Nguyễn Khuyến, Tản Đà thì ngày càng thuần Việt, thuần Nôm. Ta không bình ai hơn ai mà chỉ vì “việc nó thế”, “lịch sử thi ca nó thế”!

Sang thời hiện đại, Hàn Mặc Tử cũng vẫn còn vương vấn với phương Đông, dù đã cố Việt hóa: Lụa trời ai dệt với ai căng/ Ai thả chim bay đến Quảng Hàn ("Cuối thu").

Nhưng: 

Gió may nổi, bờ tre buồn xao xác!

Trên ao bèo tàn lụi nước trong mây

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.

("Sang thu"-Anh Thơ)

Thì đã Việt lắm rồi và “chuồn chuồn nhớ nắng” xứng đáng thành “thành ngữ”!

Lưu Trọng Lư cũng “cổ” hơn “kim”:

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô?

("Tiếng thu")

"Tây" hơn, nhưng Xuân Diệu cũng không bỏ “cổ”:

Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu

Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì

Hư vô bóng khói trên đầu hạnh

Cảnh biếc run run chân ý nhi.

("Thu")

“Hạnh” là cây hạnh, tương truyền, Khổng Tử xưa ngồi gảy đàn dưới gốc hạnh và nó tượng trưng cho nền giáo dục phương Đông, tượng trưng cho sự tao nhã-“Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần” ("Truyện Kiều").

“Ý nhi” là loài chim yến (én)-“Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo” ("Chinh phụ ngâm khúc"). Nhưng “chiều lỡ thì” của Xuân Diệu quả là Việt, quả là riêng!

Thu Bắc Bộ thời hiện đại của Anh Thơ thật đáng điểm tên:

Mây sầm lại trên ao đầy khói lướt

Bụi chuối vàng run đón gió bay qua

Tiếng dế kêu rì rào bên rãnh nước

Nhịp chuông chiều văng vẳng mái chùa xa.

 

Ngoài ngõ lội, ông già lần bước gậy

Thăm đồng về, lo lắng nước không vơi

Trong bếp ướt, mẹ cu ngồi sàng sẩy

Mắt băn khoăn thỉnh thoảng ngước trông trời.

 

Trên đê gió, mục đồng từng gã một

Dắt dây trâu lơ đãng bước, quên đùa

Trong khi ấy, hai bên đồng, ễnh ộp

Vang trời chiều đưa những tiếng kêu mưa.

("Chiều thu")

Xa dần những hình ảnh tượng trưng cổ điển phương Đông cũ, Anh Thơ cho ta một mùa thu nông thôn Bắc Bộ xưa một cách rất... tranh lụa!

Hữu Thỉnh lại rất thích đầu thu: Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về.../... Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu.

Thú vị! Không nhắc đến “thu” mà vẫn thu, mới giỏi-“Ý kỵ thẳng, mạch kỵ lộ” (Lê Quý Đôn) cơ mà!

Ví dụ: Thấy rét, u tôi bọc lại mền/ Cô hàng cất rượu ủ thêm men ("Hoa với rượu"-Nguyễn Bính).

 Hay như tác giả bài viết này cũng đã cảm thức với “Thu sang”:

Bờ sông đã tiếng ai chặt mía

Hay nhớ nên người bớt xa xôi

Nắng cũ còn trên da tay đấy

Đã nghe ram ráp ở đầu môi.

 

Đêm đã dài thêm, ngày ngắn lại

Em sẽ nhiều lần quét ngõ hơn

Mùa hạ lặn vào trong vỏ trấu

Dễ gì giấc ngủ chịu qua đêm!

 

Ngỡ cứ dang tay là bay được

Dáng nào như cũng mảnh mai hơn

Người đưa thư rẽ sang ngõ khác

Để người có lỗi với kim đan!...

Nhưng chuyện thu Bắc Bộ vào trong ru con Nam Bộ thì rất hay!

Nam Bộ vốn không có bốn mùa, không có thu, thế mà lại hát ru rằng: Gió mùa thu mẹ ru con ngủ/  Đêm năm canh chày, mẹ thức đủ vừa năm.

Hóa ra, "Ru con Nam Bộ" mà chúng ta quen nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam bao năm, lại được nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác từ năm 1953, tại Chiến khu Việt Bắc.

Số là, cuối năm 1953, nhằm chuẩn bị cho ngày giải phóng và tiếp quản Thủ đô, Đoàn hợp xướng Hòa Bình được thành lập ở Việt Bắc và trong chương trình không thể thiếu dân ca ba miền. Ấy vậy mà tư liệu về dân ca Nam Bộ thì cực thiếu.

Lúc ấy trong đoàn chỉ có hai người gốc Nam Bộ là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nghệ sĩ dương cầm Thái Thị Liên. Hai người phải lục tìm ký ức và nhớ được hai làn điệu dân ca Nam Bộ, rồi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước dựa trên hai làn điệu ấy mà viết thêm lời. Lời bài hát như sau:

Đoạn 1: Gió mùa thu mẹ ru (mà) con ngủ/ Năm canh chày thức đủ vừa năm.

Đoạn 2: Chí làm trai say mê (mà) yêu nước/ Em nỡ dạ nào trách móc tình ai.

Đoạn 3: Đến mùa xuân trong cơn (mà) gió ấm/ Cha con về con nắm tay cha.

Cả ba lời trên đều chung điệp khúc:

Hỡi chàng chàng ơi! Hỡi người người ơi!

Em nhớ tới chàng, em nhớ tới chàng!

Hãy nín (nín) đi con! Hãy ngủ (ngủ) đi con

Con hời mà con hỡi, con hỡi con hời

Con hỡi con hời... hỡi con.

Thế là trên làn điệu Nam Bộ, vốn chỉ để hát về làng xóm, gia đình, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nghệ sĩ Thái Thị Liên đã tạo nên một “Ru con Nam Bộ” lớn hơn, vượt lên, thành ra đất nước-Chí làm trai say mê (mà) yêu nước/ Em nỡ dạ nào trách móc tình ai-vừa có mùa thu cổ điển Bắc Bộ với “năm canh chày”, lại vừa có cái khí phách Nam Bộ lưu dân mà vẫn đủ ý tình của “kẻ trong cánh cửa” với “người ngoài chân mây” của thi ca cổ điển!

Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì mùa thu khỏe khoắn hẳn lên, hoan hỷ hẳn lên, lạc quan hẳn lên:

Ý dân bao nhiêu năm

Thành ý trời vằng vặc

Ý trời thốt ra lời

Thành “Tuyên ngôn Độc lập”

 

Bác đọc trên đài cao

Ngàn lời thiêng bay khắp

Lời nhuần gội lòng người

Như mưa đền dạ đất(1)

 

Giữa nắng thu gió thu

Cờ Cộng hòa phần phật

Muôn dân ngước lên nhìn

Hả hê trong nước mắt

 

Tám mươi năm vong nô

Giờ thành dân độc lập

Lòng ai không mở cờ

Tái sinh cùng trời đất

 

Nay cùng thu bình thường

Dạo bên thành Cửa Bắc

Nhớ về thu năm xưa

Lòng tự nhiên hành khúc.

("Thu qua Cửa Bắc")

Thơ thu nhiều vô kể! Giấy vắn tình dài kể sao cho xiết!

 -----------

(1) Thành ngữ Việt có câu “Mưa đền cây”, “Mưa đền đất”-ý nói mưa lớn cho thỏa cây và đất sau những ngày khô hạn.

ĐỖ TRUNG LAI