Sách giáo khoa trong sự tiếp nhận đặc thù của học sinh
Một đặc điểm quan trọng cần được chú ý là việc tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà trường mang tính bắt buộc. Khi tự chọn sách đọc ngoài chương trình học, học sinh có thể tìm đến tác phẩm theo sở thích, đọc theo nhịp độ riêng, thậm chí bỏ dở để lựa chọn cuốn khác. Nhưng với những văn bản được học trên lớp, các em phải đọc, thực hiện yêu cầu của bài học và có thể được kiểm tra, đánh giá. Học sinh vì thế ở vị thế tiếp nhận phần nào thụ động ngay từ khâu lựa chọn. Tác phẩm đến với các em là do quyết định của người lớn, chưa chắc xuất phát từ nhu cầu và hứng thú của chính các em.
Một tác phẩm được đưa vào SGK sẽ đến với nhiều thế hệ học sinh, góp phần hình thành vốn ngôn ngữ, thị hiếu và cách nhìn cuộc sống của các em. Do vậy, không chỉ các em mà công chúng toàn xã hội có quyền đòi hỏi cao ở mỗi lựa chọn tác phẩm. Chính những đặc điểm ấy yêu cầu người làm SGK phải hết sức cẩn trọng và biết đặt mình vào vị trí của học sinh. Người biên soạn cần hình dung một học sinh với vốn từ, kinh nghiệm sống và khả năng cảm thụ ở độ tuổi cụ thể sẽ gặp gỡ văn bản như thế nào. Những điều người lớn cảm thấy sâu sắc nhưng lại có thể còn xa lạ với trẻ, một dụng ý nghệ thuật thuyết phục giới chuyên môn chưa chắc đã tạo được trải nghiệm đọc có ý nghĩa trong lớp học. Bởi vậy, việc lắng nghe dư luận từ chính học sinh, từ phụ huynh, công chúng xã hội cần được coi trọng. Sự cẩn trọng ấy là trách nhiệm đối với những người đọc chưa có nhiều quyền quyết định được chính điều mình sẽ đọc.
Ngoài ra, những thử nghiệm dạy và học trước khi đưa tác phẩm vào SGK chính thức để thăm dò phản ứng tiếp nhận của học sinh cũng phải được tổ chức khoa học, quy mô và cụ thể. Cần có học sinh ở các điều kiện học tập khác nhau và giáo viên trực tiếp giảng dạy tham gia phản hồi. Việc thử nghiệm nên ghi nhận mức độ đọc hiểu, khả năng tự giải thích, những hiểu lầm thường gặp và thời gian cần thiết cho bài học.
    |
 |
Giáo viên hướng dẫn học sinh trong giờ học Ngữ văn tại Trường THCS A Hải Hậu (xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình). Ảnh: MINH THU
|
Đâu là căn cứ biên soạn?
Về nguyên tắc, người biên soạn đã có những căn cứ nhất định. Môn Ngữ văn trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu ngữ liệu phải phục vụ mục tiêu giáo dục, phù hợp với học sinh, có giá trị nội dung và nghệ thuật, đồng thời đáp ứng yêu cầu về ngôn ngữ và các giá trị văn hóa, nhân văn. Chương trình quy định 6 tác phẩm bắt buộc: "Nam quốc sơn hà", "Hịch tướng sĩ", "Bình Ngô đại cáo", "Truyện Kiều", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Tuyên ngôn Độc lập". Ngoài ra còn có tác phẩm bắt buộc lựa chọn và danh mục gợi ý. Như vậy, tính mở đi cùng với những ràng buộc chuyên môn cụ thể. Cũng trong năm học 2026-2027, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được sử dụng thống nhất toàn quốc theo Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT ngày 26-12-2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Ở khâu tìm kiếm tác phẩm, người làm SGK hiện nay có nhiều thuận lợi. Thư viện, các sách, các tuyển tập, kho tư liệu số và việc trao đổi trực tiếp với các tác giả giúp mở rộng nguồn lựa chọn. Nhưng người biên soạn còn phải kiểm tra xuất xứ, đối chiếu bản in khác nhau để chọn bản chuẩn và đặt văn bản cạnh những phương án chọn lựa khác. Ngữ liệu càng nhiều, công việc đọc và sàng lọc tác phẩm càng cần được đầu tư.
Danh tiếng tác giả chỉ là một căn cứ tham khảo. Một nhà văn lớn có nhiều tác phẩm và đối tượng tiếp nhận khác nhau có thể xuất hiện xứng đáng trong SGK, nhưng một tác giả ít quen thuộc vẫn có thể viết một tác phẩm phù hợp với mục tiêu của giáo dục. Tính phù hợp còn phải được kiểm chứng qua cách học sinh tiếp nhận. Các em hiểu đến đâu, gặp vướng mắc ở đâu, cần giáo viên hỗ trợ thế nào? Một văn bản khó có thể tạo cơ hội học tập tốt nếu học sinh được hướng dẫn từng bước. Nhưng nếu các em chỉ hiểu sau khi giáo viên phải giảng giải gần như toàn bộ thì người làm sách cần xem lại mức độ có mặt hoặc vị trí của văn bản trong chương trình.
Từ góc nhìn tiếp nhận, cũng không nên dùng ký ức tuổi học trò của người lớn làm thước đo duy nhất. Những bài thơ từng khiến một thế hệ xúc động, có giá trị cần được trân trọng, nhưng học sinh hôm nay có kinh nghiệm sống và mối quan tâm riêng. Các em cũng cần được gặp cả những tác phẩm đã bền bỉ qua thời gian lẫn những sáng tác mở ra trải nghiệm mới. Sự mới mẻ phải được chứng minh bằng hiệu quả nghệ thuật và giáo dục, chứ không chỉ bằng thời điểm sáng tác.
Cái khó còn nằm ở việc chọn đoạn nào, dùng bản nào. Một đoạn trích có thể làm nổi bật vẻ đẹp của tác phẩm, nhưng cũng có thể khiến người học hiểu lệch nếu thiếu bối cảnh. Người biên soạn cần kiểm tra xem phần lược bỏ có làm thay đổi động cơ nhân vật, giọng điệu hay mối liên hệ giữa các sự kiện không. Với tác phẩm dịch, việc lựa chọn bản dịch cũng cần được thẩm định. Nguồn văn bản, chỗ lược trích và những điều chỉnh về sau cũng phải được thể hiện rõ ràng.
Ở bình diện chuyên môn, nếu thay đổi tác phẩm đã đưa vào SGK thì mỗi quyết định giữ lại hay thay thế đều cần giải thích rõ đối tượng được thay đổi, đó là toàn bộ tác phẩm, đoạn trích, lời dẫn hay cách thiết kế bài học. Việc xác định rõ phạm vi sẽ giúp tranh luận bớt đi những mâu thuẫn, đồng thời giúp giáo viên và học sinh hiểu căn cứ của sự điều chỉnh.
Chọn tác phẩm vào SGK là công việc cần dành đủ thời gian, nguồn lực cho việc đọc, so sánh, thử nghiệm và chỉnh sửa; đồng thời cần tôn trọng tiếng nói của giáo viên, học sinh và công chúng xã hội.
TS HÀ THANH VÂN