Thức tỉnh cái tôi để cuộc sống nhân văn hơn

Khái niệm "đa thanh" (polyphony) vốn được nhà lý luận văn học Mikhail Bakhtin (Nga) khởi xướng khi nghiên cứu các tiểu thuyết của đại văn hào người Nga Fyodor Dostoyevsky. Nội dung khái niệm nhằm làm rõ cấu trúc nghệ thuật mà ở đó không có sự độc tôn của một tư tưởng chủ đạo độc thoại. Mikhail Bakhtin đã chỉ ra giá trị mỹ học trong các tiểu thuyết: “Poor Folk” (dịch là: Những kẻ tủi nhục); “The House of Dead” (dịch là: Ghi chép từ ngôi nhà chết); “Crime and Punishment” (dịch là: Tội ác và trừng phạt) của Dostoyevsky và cho rằng văn chương bất hủ của Dostoevsky được nhào nặn từ vốn sống dày dạn, thấm đẫm tư tưởng nhân văn vì đề cao tình người, sự giác ngộ, khao khát về cuộc sống tốt đẹp hơn.

leftcenterrightdel

Minh họa: MAI MINH

Bước sang thời kỳ đổi mới, khi những nhiệm vụ sử thi nhường chỗ cho những vấn đề thiết thân của đời sống hòa bình và phát triển, mỹ học Việt Nam chuyển mình từ ý thức thẩm mỹ cái ta cộng đồng sang cái tôi cá nhân, từ số phận dân tộc sang số phận con người. Cấu trúc đa thanh xuất hiện như một tất yếu khách quan. Nhà văn tập trung cho những tiếng nói nội tâm cất lời, giúp biểu hiện cốt lõi của cái đẹp trong hệ hình đa thanh lộ diện.

Những nhà văn nổi tiếng thời kỳ này như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khắc Trường đã dũng cảm bóc tách các lớp huyền thoại để nhìn hiện thực bằng cái nhìn lập thể. Vẻ đẹp lúc này nằm ở chỗ dám nhìn thẳng vào nỗi đau hậu chiến, sự tha hóa đạo đức trong buổi đầu cơ chế thị trường và những góc khuất tăm tối của lòng người... để thanh lọc tâm hồn độc giả bằng sự thức tỉnh trí tuệ, bằng nỗi đau đớn khi nhận ra những rạn nứt của cõi nhân sinh.

Trong nền mỹ học đa thanh, con người được phản ánh trong các tác phẩm thường là sự đan cài giữa phần thánh thiện và phần bản năng, giữa khát vọng cao cả và những sai lầm, ích kỷ đời thường. Nhà văn đã thấu cảm với những bi kịch nội tâm, nỗi cô đơn bản thể và những khao khát hạnh phúc trần thế của nhân vật để cho ra đời tác phẩm. Việc khám phá chiều sâu vô thức và tâm linh của con người đã tạo nên một giá trị mỹ học sâu sắc, chạm đến bản chất của nhân sinh. Con người được khóc cho nỗi đau riêng, được quyền yếu đuối và đơn độc giữa dòng đời vạn biến.

Một điều đáng chú ý trong mỹ học đa thanh đó là sự cách tân và đa dạng hóa hình thức, ngôn ngữ biểu hiện trong các tác phẩm. Văn học Việt Nam thời đổi mới đã chứng kiến sự bùng nổ của những kỹ thuật viết hiện đại và hậu hiện đại: Cấu trúc dòng tâm tư, kỹ thuật đồng hiện, hiện thực huyền ảo, giải cấu trúc thời gian tuyến tính. Ngôn ngữ văn học cũng rũ bỏ lớp áo trang trọng, ước lệ để khoác lên mình lớp ngôn từ suồng sã của đời sống thường nhật, ngôn ngữ đa giọng điệu, giàu tính đối thoại và tranh biện. Người đọc không còn là kẻ thụ động tiếp nhận chân lý mà trở thành một chủ thể đồng sáng tạo, tự tìm câu trả lời từ các mảnh vỡ hiện thực mà nhà văn cung cấp.

Mặt trái của mỹ học đa thanh

Tuy nhiên gần đây, trong dòng mỹ học đa thanh xuất hiện trào lưu tư duy “mì ăn liền”. Đó là các tác phẩm được sản xuất nhanh, tiêu thụ nhanh, đánh lừa cảm quan thẩm mỹ tức thời bằng các gia vị kích thích bề nổi nhưng hoàn toàn rỗng tuếch về giá trị tư tưởng và hàm lượng nghệ thuật. Đây là thứ văn học vị lợi nhuận, vị vị giác chứ không còn vị nhân sinh hay vị nghệ thuật chân chính. Nó được nhào nặn để thỏa mãn những "cơn khát" cảm xúc tức thời của một xã hội công nghiệp bận rộn nhưng cô đơn.

Trên các diễn đàn mạng, các hiệu sách đương đại tràn ngập dòng tản văn sướt mướt, những cuốn truyện ngôn tình đô thị lai căng hoặc những cuốn sách "hạt giống tâm hồn" tự phong với lối viết nông cạn. Người viết không lao động chữ nghĩa mà chỉ lắp ghép các công thức có sẵn: Một chút buồn bã, cô đơn vô cớ, một vài triết lý vụn vặt về tình yêu, những câu chữ bóng bẩy nhưng sáo rỗng nhằm mục đích tạo trào lưu (trend) hoặc làm chú thích (caption) ảnh trên mạng xã hội. Thứ văn chương này vuốt ve sự lười biếng tư duy của một bộ phận độc giả, ru ngủ họ trong những ảo tưởng ngọt ngào thay vì thúc đẩy họ đối diện và giải quyết những vấn đề thực tế của cuộc sống.

Lợi dụng việc mỹ học đa thanh chấp nhận miêu tả phần bản năng, phần con của con người, không ít cây bút đương đại đã sa đà vào xu hướng trần tục hóa nghệ thuật. Họ khai thác một cách vô tội vạ, sống sượng các yếu tố tính dục (sex), bạo lực, sự quái đản và bệnh hoạn của đời sống tinh thần. Khi cái xấu, cái tục không được nâng đỡ bởi một lý tưởng nhân văn, một tầm nhìn triết học hay một bộ lọc thẩm mỹ cao cả, chúng lập tức biến tác phẩm thành một thứ hàng hóa câu khách rẻ tiền, kích thích những thị hiếu thấp kém của công chúng thay vì thực hiện thiên chức nâng đỡ tâm hồn con người.

Một biểu hiện chưa đẹp khác của sự quá đà trong việc giải huyền thoại là sa vào chủ nghĩa hư vô. Một số nhà văn khi thực hiện phản biện xã hội đã đẩy cái nhìn của mình đến sự tuyệt vọng và hoài nghi cực đoan. Họ phủ nhận sạch trơn các giá trị truyền thống, bôi đen toàn bộ hiện thực, vẽ nên một thế giới chỉ có sự lừa lọc, phản bội và bế tắc. Những tác phẩm văn học này không đem lại sự thanh lọc hay sức mạnh tinh thần cho con người mà gieo rắc sự hoang mang, buông xuôi, làm xói mòn niềm tin vào nhân tính.

Bên cạnh đó, một số tác giả lạm dụng các kỹ thuật phân rã, xáo trộn ngôn từ, biến tác phẩm thành một trò chơi chữ nghĩa vô nghĩa, xa lạ với tâm lý tiếp nhận và mạch ngầm văn hóa của người Việt. Đi kèm với đó là sự cẩu thả trong hành văn, lạm dụng biệt ngữ mạng, lối viết nửa Tây nửa ta sống sượng, làm vẩn đục sự trong sáng của tiếng Việt.

Cần bản lĩnh của người cầm bút

Đứng trước nghịch lý thẩm mỹ ấy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để bảo vệ và phát huy những giá trị cốt lõi của mỹ học đa thanh, đồng thời đẩy lùi làn sóng văn chương dễ dãi? Theo tôi, câu trả lời nằm ở bản lĩnh của 3 chủ thể: Người sáng tác, người tiếp nhận và nhà phê bình. Trong nội dung này, tôi xin nhấn mạnh đến bản lĩnh của người cầm bút và người tiếp nhận.

Bất cứ nhà văn nào cũng hiểu, tự do sáng tạo là một đặc ân của thời đại, nhưng trách nhiệm của người cầm bút trước ngôn từ và trước nhân dân là một nghĩa vụ đạo đức vĩnh cửu. Thế nên trong các tác phẩm, nhà văn luôn lấy giá trị chân-thiện-mỹ làm trung tâm. Điều ấy cho phép nhà văn có quyền phản ánh cái ác, cái xấu, cái trần tục của đời sống đa thanh, nhưng mục đích cuối cùng của sự phản ánh đó là để hướng con người ta tới ánh sáng của nhân tính. Nhà văn viết bằng một tình yêu thương con người sâu sắc, bằng một nỗi đau đời chân thành chứ không phải bằng thái độ bàng quan, giễu nhại vô hồn.

Viết văn là một quá trình lao động khổ hạnh, là sự chắt lọc tinh chất của tư duy và cảm xúc chứ không phải là hành động bấm nút "nấu một gói mì ăn liền". Người viết cần không ngừng tự nâng cao vốn văn hóa bản địa, kết hợp nhuần nhuyễn lý thuyết hiện đại thế giới với cốt cách tâm hồn Việt để tạo ra những tác phẩm có tầm vóc, vừa hiện đại vừa mang bản sắc dân tộc sâu sắc. Văn chương cần được viết bằng máu và nước mắt của sự trải nghiệm chứ không phải bằng sự hời hợt của những ngón tay gõ nhanh trên bàn phím.

Về phía người đọc, tôi cho rằng không cần bỏ tiền, thời gian "đi mua cái xấu" để tiếp thêm sức cho sự sinh tồn của tác phẩm thiếu giá trị thẩm mỹ.

Nếu văn học “mì ăn liền” liên tục đến với người đọc tức là độc giả bị bao vây bởi một hệ sinh thái văn chương dễ dãi, năng lực cảm quan thẩm mỹ của cả một thế hệ sẽ bị xói mòn. Họ sẽ không còn đủ kiên nhẫn để đọc những cuốn tiểu thuyết dày hàng trăm trang đòi hỏi sự suy ngẫm sâu xa, không còn khả năng thấu cảm với những rung động tinh tế của ngôn từ đích thực. Đó là sự nghèo nàn hóa tâm linh mang tính hệ thống. Người ta quen tiêu thụ những gì nhanh chóng, tiện lợi, để rồi quên mất rằng nghệ thuật đích thực cần một khoảng lùi, một khoảng lặng để kết tinh.

Không thể phủ nhận rằng, mỹ học đa thanh đã mang lại cho chúng ta quyền được nói bằng nhiều giọng điệu, được khám phá thế giới ở nhiều chiều kích. Nhờ tài năng và bản lĩnh văn hóa của người cầm bút, nghệ thuật đa thanh đã có những đóng góp xuất sắc vào văn chương nước nhà. Những giá trị thực sự sẽ còn lại với thời gian, như những phù sa màu mỡ bồi đắp cho mảnh đất tâm hồn người Việt thêm xanh tươi qua bao mùa dông bão.

TRƯƠNG HUYỀN