Bản Minh Tiến là bản Khơ Mú thuộc xã Lượng Minh (Tương Dương, Nghệ An). Trên bản đồ cư trú của người Khơ Mú thuộc vùng Đường 7 miền Tây Nghệ An, bản Minh Tiến là một trong những bản dưới cùng trên con đường di cư từ vùng Kỳ Sơn đi xuống. Hiện tại, trong bản có 127 hộ với 603 nhân khẩu đều là người Khơ Mú. Bản được thành lập từ hơn 3 thập kỷ trước, dân trong bản chủ yếu từ xã Bảo Thắng (Kỳ Sơn, Nghệ An) di cư đến sinh sống. Cũng như nhiều bản khác, các nét văn hóa truyền thống của người Khơ Mú ở Minh Tiến đang bị mai một dần, trong đó có nghề đan lát, một nghề được coi là quan trọng và gắn với nhiều giá trị văn hóa truyền thống.

Những người già ở đây cho biết, ngày trước, hầu hết đàn ông Khơ Mú đều biết đan lát. Một số sản phẩm đan lát đạt đỉnh cao như mâm tre, ép xôi, ghế, gùi, rổ...; trong đó, mâm tre là sản phẩm đẹp nhất, cầu kỳ, khó làm nhưng cũng gắn với nhiều nét văn hóa Khơ Mú nhất. Từ khi còn nhỏ, người Khơ Mú đã được cha ông dạy cho cách đan lát. Khi lập gia đình, họ phải đan lát để làm ra các dụng cụ phục vụ cuộc sống sinh hoạt và sản xuất trong gia đình. Nếu không làm được thì họ phải mang ngô, lúa hay các thứ khác đi đổi. Người không biết đan lát thường không được coi trọng như những người khéo léo tạo ra các sản phẩm đẹp và bền. Tuy nhiên, ngày nay, dưới tác động của kinh tế thị trường, người dân chủ yếu mua sắm đồ gia dụng ở chợ. Do vậy, nghề đan lát cũng mai một dần.

leftcenterrightdel
Bản Minh Tiến nhìn từ xa. 

Hiện tại, cả bản Minh Tiến chỉ còn 3 người đàn ông lớn tuổi vẫn còn làm nghề đan lát đồ tre, mây, trong đó có một người thường xuyên làm để bán, hai người còn lại thỉnh thoảng mới đan lát. Người hay đan lát là ông Moong Văn Tuyền, sinh năm 1969. Ông Tuyền là con trai của ông Moong Văn Cang, một trong những người được coi là khởi đầu cho việc đưa dân từ Bảo Thắng về lập bản Minh Tiến. Ông Tuyền học được nghề đan lát từ cha và các bác của mình. Như ông nói thì đó là một cách học nghề rất tự nhiên, bởi trước đây, người Khơ Mú chưa xem đan lát là một nghề mà đơn giản là kỹ năng để tạo ra các vật dụng phục vụ sinh hoạt hằng ngày trong gia đình. “Việc học nghề rất tự nhiên, chẳng ai gọi là dạy hay học cả, vì nó diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Điều quan trọng là sau đó, người đàn ông phải biết các kinh nghiệm về lựa chọn nguyên liệu, xử lý nguyên liệu và cách thức làm sao cho sản phẩm của mình thật đẹp. Còn kỹ năng đan lát thì gần như ai cũng biết. Chỉ có khác nhau là người đan đẹp, người đan chưa đẹp thôi. Cái đó mới phải học và tự mày mò tìm hiểu thêm”, ông Moong Văn Tuyền chia sẻ.

Là người duy nhất trong bản hành nghề đan lát để kiếm thêm thu nhập, ông Tuyền vẫn vào rừng tìm tre, nứa, mây để về đan. Nhưng như ông kể thì việc đan lát cũng vừa phải, vì nhu cầu không nhiều. Tuổi đời của một sản phẩm đan lát của người Khơ Mú khá lâu, có những sản phẩm dùng vài ba năm, nhưng cũng có những sản phẩm tới 15-20 năm vẫn chưa hỏng. Chỉ một số sản phẩm như mâm tre, ép xôi hay ghế là người Khơ Mú còn thích dùng đồ truyền thống, còn lại họ thay thế bằng các vật dụng mua ngoài chợ vì rẻ và nhiều sự lựa chọn hơn. Thậm chí hiện nay, người ta còn chở hàng vào tận bản để bán chứ không cần đi ra chợ, vì thế ông Tuyền chủ yếu đan các đồ được người dân trong vùng đến đặt. Thỉnh thoảng lấy được nhiều nguyên liệu, đan ra nhiều thì ông mới mang đi chợ bán. Ông tâm sự: “Nói đan lát để kiếm sống cũng chưa đúng. Thật ra thì có nhiều thời gian rảnh lại nhớ nghề nên mình hay đan lát. Đan được nhiều thì bán mỗi tháng cũng kiếm được 1-2 triệu đồng để lo cho gia đình và giúp đỡ thêm cho con cái. Ở nhà trông cháu không làm gì cũng buồn, nhưng càng thêm tuổi, việc vào rừng lấy nguyên liệu càng khó hơn. Nếu tính kinh tế thì cũng không đáng bao nhiêu, song người Khơ Mú còn thì đan lát vẫn cần thiết, bởi đó là văn hóa truyền thống của chúng tôi”.

leftcenterrightdel
Ông Moong Văn Tuyền, một trong số ít người Khơ Mú của bản Minh Tiến còn làm nghề đan lát. 

Đúng như ông Tuyền nói, nghề đan lát có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người Khơ Mú. Không chỉ tạo ra các dụng cụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt, sản phẩm đan lát còn gắn với thực hành văn hóa truyền thống, trong đó có đời sống tâm linh của người Khơ Mú. Ông Moong Văn Quang, già làng của bản chia sẻ: “Trong cuộc sống hằng ngày, người Khơ Mú có thể sử dụng mâm nhôm, ghế nhựa và các loại dụng cụ khác mua từ chợ về. Tuy nhiên, trong thực hành văn hóa truyền thống thì không được. Khi làm giỗ cha, giỗ mẹ, người Khơ Mú phải dùng mâm tre, ghế mây và các dụng cụ truyền thống do người Khơ Mú đan lát. Mình phải cúng tổ tiên theo đúng nghi lễ mà tổ tiên truyền dạy cho mình, chứ không thể đưa những thứ lạ lẫm vào bếp thờ của gia đình được. Làm như vậy, cha mẹ, tổ tiên sẽ không chấp nhận”. Cũng vì những giá trị văn hóa như vậy mà trong mọi gia đình người Khơ Mú, dù già hay trẻ đều có ít nhất một bộ mâm, ép xôi, ghế là đồ đan lát truyền thống để trong bếp thờ. Khi thực hành các nghi lễ, họ sử dụng những dụng cụ này để làm lễ. Các gia đình không biết đan lát thì phải đi mua về để trong nhà. Người Khơ Mú khi tiếp khách quý cũng thích sử dụng các dụng cụ đan lát truyền thống hơn.

Dù có sức sống mãnh liệt trong văn hóa, nhưng trong các hoạt động kinh tế thì nghề đan lát lại bị mai một nhanh chóng. Trong khi cả bản chỉ còn một vài người già biết đan lát thì hầu hết lớp trẻ lại không quan tâm đến vấn đề này. Họ lựa chọn đến nhà người quen đặt đan hoặc ra chợ mua các đồ đan lát mà những người Khơ Mú khác làm ra. Ông Xèo Văn Đức, Trưởng bản Minh Tiến cho rằng: “Người Khơ Mú nào cũng cho rằng nghề đan lát rất quan trọng vì đồ đan của người Khơ Mú đẹp hơn các cộng đồng khác và người Khơ Mú cần đồ đan lát để cúng tổ tiên. Nhưng lại ít người học nghề và mang nghề đan ra để kiếm sống vì không tìm kiếm được thị trường. Lớp trẻ cũng phải tính toán về kinh tế, họ chủ yếu đi làm ăn xa. Bọn nhỏ thì đi học liên tục nên cũng không học được nghề. Thành ra cần thì cứ đi ra chợ mua, thậm chí lên cửa khẩu mua đồ từ bên Lào về. Cứ như vậy thì rồi đến lúc nào đó, ở Minh Tiến không còn ai đan lát nữa”.

Sự mai một nghề thủ công truyền thống ở các dân tộc thiểu số là tình trạng khá phổ biến ở miền núi Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung. Việc tạo ra cơ hội để bứt phá, giúp cho một số nghề tìm lại được thế mạnh để phát triển là bài toán khó. Nhiều địa phương đã nỗ lực nhưng thành công thì không nhiều. Với nghề đan lát của người Khơ Mú ở Minh Tiến thì càng khó hơn, khi mà thị trường đầu ra ít, các hoạt động dịch vụ du lịch chưa phát triển, trong khi sự đứt gãy trong quá trình truyền nghề càng thêm sâu sắc. Ông Vi Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Lượng Minh trao đổi: “Chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến việc bảo tồn, khôi phục những giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người. Nhưng để làm được thì lại rất khó vì địa phương thiếu quá nhiều nguồn lực. Không chỉ Minh Tiến mà ở các bản khác trong xã cũng tương tự. Mỗi bản chỉ còn một vài người làm đan lát để phục vụ nhu cầu trong đời sống văn hóa là chính. Việc tìm ra một con đường mới để duy trì nghề này trở nên quá sức với địa phương, đòi hỏi phải có những sự hỗ trợ tích cực, đặc biệt là từ Nhà nước cũng như các doanh nghiệp”.

Bài và ảnh: BÙI HÀO