Mẹ đã quen với đôi quang gánh từ khi còn đôi mươi, giờ mái tóc điểm sương vẫn nhịp nhàng gánh hàng ra chợ. Bình minh còn chưa kịp mọc, mẹ đã đi, đôi vai gầy gánh hai thúng khoai lang luộc nặng trĩu, bước chân đều đặn. Khi một vai mỏi, mẹ khéo léo đổi đòn gánh sang vai kia mà không một lần dừng lại. Dẫu mưu sinh bằng nghề buôn gánh bán bưng cực nhọc, mẹ vẫn sắm sửa đầy đủ để chuẩn bị đón Tết.
Những ngày cuối năm, góc bếp nhỏ luôn rực lửa. Sáng 28 Tết, mẹ ra chợ bán khoai lang, chiều về lại mang theo thúng nếp, đậu xanh, lạc... chuẩn bị gói bánh chưng. Đêm 28, mẹ ngâm nếp, lau lá chuối, nấu đậu, tất cả tươm tất bày biện ở góc thềm, hạt nếp trắng ngần đều tăm tắp, đậu xanh vàng ươm, thơm nức, lá chuối xanh mướt cắt từ sáng hôm trước. Đêm 29, bếp lửa đỏ rực, nồi bánh chưng sôi ùng ục.
Lũ trẻ con chúng tôi chẳng thể rời mắt khỏi bếp, hớn hở đòi canh nồi bánh cùng mẹ. Tiếng cười nói trong bếp hòa lẫn với thanh âm lách tách của củi cháy, tiếng mưa rơi rả rích ngoài trời, gió bấc thốc hun hút từng ngóc ngách khiến thời gian như ngừng trôi. Nghe tiếng gà gáy, tôi giật mình thức dậy, thấy bóng mẹ chập chờn bên vách tre sẫm màu. Nhiều năm trôi qua, tôi chưa bao giờ thức trọn để canh nồi bánh chưng cùng mẹ nhưng hồi ức ấy vẫn trong lành, ấm áp như sợi khói lam chiều quấn quanh căn bếp quê hương.
Bánh mẹ gói chẳng cầu kỳ, nhân chỉ vỏn vẹn có đậu xanh nhưng chị em chúng tôi ăn bao giờ cũng thấy ngon lạ kỳ. Có lẽ vì đói, vì thiếu thốn hay chính từ đôi bàn tay mẹ, từ hơi ấm bếp lửa thấm vào từng hạt nếp khiến vị bánh trở nên ngọt ngào hơn cả.
Nhiều lần tôi đứng lặng ở góc sân, ngắm chái bếp, nghĩ về làn khói lam, lớp bồ hóng phủ trên vách tre rồi thương mẹ. Chiều xuống, khi mẹ thổi cơm, khói bếp bay bảng lảng, uốn lượn trên những tàu lá chuối, phả vào không gian chút hương ấm cúng. Từ lúc nào, những tàu lá chuối ấy phủ một lớp bụi mịn, tựa như mẹ tôi-mỏng manh, mái tóc pha sương, nhẫn nại trong ngọn khói lam chiều nơi góc bếp thân thuộc.
Trong lúc mẹ chuẩn bị mâm cỗ cuối năm, tôi thoáng nhìn quanh bếp, bỗng nhận ra mẹ đã thay đổi nhiều. Làn da nhăn nheo, tóc điểm bạc, lưng gù theo thời gian. Mẹ kể cho tôi nghe những Tết đầu tiên làm dâu. “Mồng Một Tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba Tết thầy”, rồi cẩn thận chuẩn bị mâm cúng ông bà, nấu xôi chè đầu năm. Ba ngày Tết, mẹ quanh quẩn trong bếp, nhớ nhà nhưng vẫn phải làm tròn trách nhiệm của một người con dâu.
Những câu chuyện xưa khiến tôi thương mẹ vô cùng, thương cho những ngày đầu lạ lẫm, bỡ ngỡ. Ngày thường hay ngày Tết, mẹ vẫn dậy sớm, nhóm lửa, hái lá chè sớm tinh mơ, rửa sạch, nấu cùng vài lát gừng. Hơi nước bốc lên, hương chè xanh, mùi cay nồng của gừng lan tỏa khắp gian nhà. Khi còn nhỏ, tôi ít uống chè vì đắng chát nhưng lại mê mẩn hít hà hương thơm ấy. Một ấm nước chè xanh sóng sánh, nhâm nhi cùng lát mứt gừng mẹ làm vội khiến bụng ấm lại, chào đón năm mới giữa không khí xuân về êm đềm.
Là đứa trẻ sinh ra ở nông thôn, lớn lên bên vành nôi, cánh võng cùng lời hát ru dịu dàng của mẹ, tôi đã học cách giữ gìn những gì thân thương nhất. Góc bếp của mẹ, nơi khói lam chiều bay lơ lửng, nơi hương nếp, hương lá chuối và mùi bánh chưng lan tỏa đã trở thành một phần ký ức mà tôi nâng niu, gói ghém kỹ lưỡng để mang theo suốt cuộc đời. Nơi ấy không chỉ là căn bếp bình thường, nó còn là sợi dây kết nối tâm hồn tôi với cội nguồn, với tuổi thơ và với tình mẫu tử thiêng liêng.
Tản văn của QUÁCH THÁI DI