Nhưng mà không gói bánh chưng, bó giò, nấu thịt đông, muối dưa hành, sao gọi là Tết. Ngày bà ấy đôn đáo mấy lượt chạy đi. Hễ xe máy là chợ xa, xe đạp là chợ gần, đi bộ là quanh xóm. Hăm tám Tết rồi, hỏi đủ chưa bà ấy bảo mới hòm hòm.
Đang giỏng tai nghe loa thôn lên lịch quét dọn đường làng ngõ xóm, nhà văn hóa thì có tiếng ô tô xịch đỗ ở cổng. Tưởng là vợ chồng đứa con trai cả ở thành phố về, ông chống gối đứng dậy đi ra. Cửa xe mở, hai đứa cháu ngoại được mẹ chúng nhấc xuống. Nhìn thấy ông, cô con gái liền xuýt xoa: "May quá, bố ở nhà, bố cho con gửi hai cháu buổi sáng". Rồi nó nhắc con: "Chào ông đi con. Ở đây chơi với ông bà. Phải ngoan đấy, chiều mẹ đón".
Hai thằng cu giống như chim sổ lồng, chào ông lấy lệ rồi ùa vào sân. Nhìn thấy gạo, thịt, lá dong, lạt buộc thì mắt chúng sáng trưng. Chúng còn đang ngỡ ngàng chưa biết nghịch từ đâu thì mẹ nó đã ấn cái ba lô quần áo vào tay ông Đông rồi lên xe, lùi tiến hai đỏ, quay xe ra đường làng chạy mất.
Một đời lam lũ nuôi ba đứa con ăn học, những năm tháng nheo nhóc, lần ăn lần mặc, vay mượn, nhớ lại mà sợ. Trồng cấy thì liên tục mất mùa, chăn nuôi thì thường xuyên dịch bệnh. Những đồng trợ cấp ít ỏi chỉ đủ tiền thuốc men cho con bé út. Nó bị bệnh tim bẩm sinh. Ơn giời, sau ba lần mổ thì ổn, hết đại học rồi cũng lấy chồng sinh con. Bản thân ông, thương binh cụt tay mà được như bây giờ cũng là thành tựu ở làng rồi.
Hết con thì đến cháu. Năm đứa cháu, nội hay ngoại gì thì đều qua tay ông bà, vì chúng bảo sân vườn nhà rộng rãi, cổng có khóa kiên cố, thả trẻ ra sân vườn, khóa cổng lại là yên tâm, phá giời cũng được. Vợ chồng đứa con trai lớn làm việc dưới thành phố, hai đứa con ở nhà với ông bà. Giờ đang được bà trẻ đón ra nhà chơi. Vợ chồng đứa con trai thứ hai, nhà riêng cũng gần đây nhưng đều là cán bộ nhà nước. Con gái nó cũng một tay ông bà đón đưa đi học. Còn mẹ hai thằng Tí này lấy chồng bộ đội, nhà nó cách đây cả chục cây số nhưng cứ cuối tuần là thả chúng về đây như thả ngỗng. Chồng bộ đội mà vợ lại đẻ sinh đôi, cho nên nội, ngoại đều phải xúm vào mà đỡ đần nó. Hai đứa con nó thiếu mỗi cái hộ khẩu ở nhà ông thôi. Nhà cửa từ trong ra ngoài, từ nhà lớn đến bếp, từ sân ra vườn, chỗ nào cũng thấy đồ chơi trẻ con. Đến nỗi, ông còn dẹp cả nửa cái vườn rau đi, láng sạch, mua đồ trang trí về làm thành cái vườn trẻ. Đánh trận không khổ bằng trông trẻ.
Để chúng đỡ vầy gạo, một đứa ông bế trên tay, còn một đứa ông kẹp dưới chân. Đợi bà chúng nó về rồi tính. Đứa bị bế trên tay lém lỉnh y hệt mẹ nó. Nó hỏi ông thế này: "Ông ơi, sao ông có một cái tay?". Ông Đông bật cười: "Hai tay vướng quá, ông cất bớt một cái đi rồi". Thằng bé giơ hai tay đấm vào không khí rồi dài giọng ra: "Con chả thấy vướng gì cả. Ông lắp tay vào để chơi với con. Ông thả con ra đi". Ông Đông lắc đầu: "Các con cam kết là không nghịch gạo, đỗ của bà thì ông thả". Thằng bé bị kẹp thì giương đôi mắt tròn xoe, đen nháy nhìn ông rồi gật đầu lia lịa.
Ông Đông vừa thả hai thằng ra là chúng nó chạy một mạch ra bể nước mưa, xoay xoay, vặn vặn. Nước tóe ra lai láng nền bể. Giữ chặt thì sợ đau cháu mà lỏng thì sợ cháu rơi xuống nên ông Đông đành đem hai đứa vào nhà lớn, khép cửa lại. Thôi, muốn nghịch gì thì nghịch. Có đổ vỡ cũng đành chịu. Ngày xưa, ba đứa con ông, đứa nào cũng hiền lành, ngoan ngoãn. Có nghịch đấy nhưng chỉ nói xẵng một câu là dừng ngay. Còn đàn cháu của ông bây giờ thì cứ gọi là luôn chân luôn tay nghịch, cấm cái này thì nó nghịch cái khác. Đến nỗi bố mẹ chúng thường ao ước giá như trường mẫu giáo giữ trẻ đến Giao thừa thì tốt.
Bà Tần về nhà, nhìn thấy hai đứa cháu thì gào lên thảm thương:
- Tôi đến lạy ông. Trông quanh năm suốt tháng rồi, còn mấy ngày cuối năm, chúng nó còn làm khổ tôi đến bao giờ. Ông nhận thì ông tự trông lấy, đừng có gọi tôi.
Ông Đông nhăn nhó. Một bên là vợ, một bên là con cháu. Ông không thương bà thì thương ai chứ. Quanh năm vất vả vì chồng con rồi đến cháu, cứ đến Tết là quần quật không ngơi tay. Nhưng mà con gái ông cũng bận bịu lắm. Trước kia, nó nói nó đang yêu một cậu bộ đội, chính ông nhiệt tình ủng hộ hai đứa lấy nhau. Chồng sĩ quan, nghe nói trực đến mồng ba, vợ kế toán ngân hàng, hăm tám Tết rồi vẫn còn bận nốt buổi sáng.
Thay quần áo bị bẩn cho thằng Tí em xong, ra sân, ông đã thấy thằng Tí anh đang ngồi xổm nghịch gạo. Ông nịnh hai đứa. Vào nhà ông mở phim hoạt hình cho xem. Bà Tần xẵng giọng bảo bố mẹ chúng không cho xem ti vi nhiều đâu, hỏng mắt. Hay là ông đưa chúng nó sang nhà ông Tư chơi.
Ông Đông thấy ái ngại, sợ hai đứa sang đó đập phá gì nhà người ta thì sao? Nhìn thấy sự băn khoăn trong mắt ông, bà Tần khẳng định hễ lạ nhà là chúng chơi ngoan lắm, vả lại ông Tư cũng thích chúng mà. Ông Đông thấy vợ nói phải nên dắt hai đứa đi. Ông Đông và ông Tư cùng làng, bằng tuổi, còn là họ hàng. Hai người cùng nhập ngũ một ngày, cùng đơn vị huấn luyện và cùng chiến đấu. Ông Tư ơn giời trở về lành lặn, cưới vợ, có hai đứa con đều thành đạt cả. Đứa con gái lớn đi học phiên dịch xong đi làm vài năm thì lấy chồng và định cư luôn bên Đức. Ngày nhỏ ông bế nó suốt, nhưng bây giờ có gặp cũng chưa chắc đã nhận ra, vì gần chục năm nay, nó vẫn chưa về. Đứa con trai út thì lấy vợ ở Đà Nẵng, rồi chuyển công tác vào sinh sống luôn trong đó. Nó muốn đón bố mẹ vào sống cùng nhưng chỉ có bà đi, còn ông thì không. Cũng mấy năm rồi, bà chưa về.
Cổng nhà ông Tư lá sấu vàng phủ đầy, yên ắng giống như cổng một ngôi chùa ở nơi hẻo lánh, không có khách vãng lai. Ba ông cháu vào đến sân nhà, thấy một chiếc xe đạp cũ kỹ dựng ở góc, yên xe còn có lá đậu. Trên thềm có con mèo đen ngồi rửa mặt. Hai đứa nhỏ nhìn thấy con mèo đen thì thích thú chạy đến định vồ lấy. Ông Đông đi lên thềm, mở cửa ra, gọi khẽ: "Ông Tư ơi". Gọi liền ba câu mới thấy ông Tư lên tiếng. Ông Đông hỏi: "Bác ốm à?". Ông Tư ngồi dậy, đắp chăn ngang bụng cười khẽ: "Lạnh quá tôi nằm đây cho ấm chứ ốm được đã tốt". Ông Đông sốt ruột: "Bác cứ gở mồm, tết tư chuẩn bị đến đâu rồi?". Ông Tư giơ điện thoại lên, khoe một cách miễn cưỡng: "Chúng nó chuyển khoản tiền sắm Tết vào đây cả rồi. Năm nay vợ nó đẻ, về sao được. Mình tôi thì Tết có ý nghĩa gì. Tôi cũng nhờ thím Tần gói cho vài đồng bánh chưng và sắm cho mấy món giò chả để cúng ông bà ông vải rồi. Thím ấy gọi tôi không được nên vừa chạy sang hỏi là tôi thích bánh tày hay bánh vuông, nhiều nhân hay ít nhân để còn gói. Tôi vốn không thích đậu xanh mà, chỉ loáng thoáng thôi. Năm nào con nhà thằng Trường về, tôi mới gói nhiều nhân".
Ông Đông ngạc nhiên. Lúc ấy, ông Đông mới hiểu ý vợ mình. Hóa ra, bà ấy bảo ông dẫn hai cháu sang đây chơi, cốt là làm cho ông Tư vui. Ông Đông cắt đặt công việc: "Ông quét dọn nhà cửa sân sướng đi. Tôi đun nước pha ấm trà uống".
Bọn trẻ con thấy cái hộp quân cờ tướng để trên phản thì đổ ra nghịch. Những quân cờ bằng gỗ chè đen bóng bị chúng giành nhau văng tung tóe nhưng ông Tư không những chẳng quát chúng, lại còn cười. Thằng Tí anh liền hỏi: "Ông ơi, ông có đồ chơi gì nữa không, cho con mượn, em cứ tranh của con". Ông Tư gãi đầu gãi tai một lúc thì lôi cả cái ngăn kéo tủ ra, đặt lên phản: "Đây, cái gì chơi được cho các cậu chơi hết". Hai anh em tò mò xán lại chiếc ngăn kéo. Trong ngăn kéo có những con dấu cũ từ ngày ông còn làm cửa hàng lương thực, có những đồng tiền xu hồi thập niên bảy mươi, có cả cái lược sừng khắc hình con công đang múa, cả những cái cát-tút đã hoen gỉ. Rồi những chiếc đồng hồ cũ, từng rất quý giá, tương đương cả chỉ vàng, cả quả chuông xe đạp Phượng Hoàng ngày xưa, khi bán xe cho hàng sắt vụn ông còn giữ lại.
Ông Đông ngạc nhiên lắm. Không ngờ, những thứ này, những kỷ vật đem về từ chiến trường, những món đồ từ thời tem phiếu bao cấp, ông ấy còn giữ đến tận bây giờ. Và càng nhạc nhiên hơn khi ông ấy chẳng mảy may nghĩ ngợi mà đem ra cho trẻ chơi.
Thằng Tí anh hỏi ông Tư: "Ông ơi, đây là đồ chơi của ông ạ? Sao con chưa thấy bao giờ?". Ông Tư cười tủm tỉm: "Các cậu làm sao mà thấy được chứ, toàn đồ cổ thôi". Thằng Tí em tỏ ra hiểu biết: "Đây là đồ chơi của siêu nhân. Siêu nhân đi cứu thế giới thì đồ chơi cũng phải khác chứ".
Giờ thì sân ngõ sạch sẽ. Hai ông ngồi bên ghế, trà nóng bốc hơi nghi ngút, hai thằng cháu thì vẫn đang say sưa nghiên cứu và tìm cách ghép những món đồ chơi lại với nhau. Ông Tư rút điện thoại đã sạc kha khá pin ra, mang kính vào, bấm số. Ông Đông tưởng là ông ấy gọi điện thoại cho vợ con sau khi đã lấy lại tinh thần. Nhưng không ngờ. Giọng ông ấy rền vang trong điện thoại: "Ừ, chú Tư đây mà. Nội trong chiều nay, anh chọn cho chú cây đào phai đẹp nhất nhé. Chậu có rồi. Ta phải chơi dần từ hôm nay chứ".
Xong giao dịch đào quất, ông Tư thản nhiên nói: "Nếu chỉ sống cho bản thân mình thì tôi thấy đơn giản như một giấc ngủ thôi. Nhưng nếu sống thay cho cả những sự hy sinh thì nhất định phải sống cho đàng hoàng. Mấy năm nay, Tết đến tôi cứ lầm lũi một mình. Tôi đã ghen tỵ với ông biết bao. Giờ thì tôi đặt cái gánh nặng ấy xuống rồi. Qua Tết, tôi sẽ dọn dẹp cái vườn này, làm thành cái vườn trẻ, giống y như bên ông, cho trẻ làng đến chơi. Ông cứ việc đưa bọn trẻ sang đây bất cứ lúc nào chúng muốn. Tôi quản đỡ cho. Có tiếng cười của trẻ con. Ngày nào cũng là Tết".
| Dưới nhịp gió se se của những ngày giáp Tết, câu chuyện mở ra từ một sân nhà quen thuộc, nơi mà gạo nếp, lá dong, tiếng trẻ con và bước chân người già cùng hiện diện như những lớp trầm tích của thời gian. Xuân ở đây là mùa của bánh chưng, giò chả, đào quất, đồng thời là mùa trở về của cháu con, của ký ức, của những hy sinh lặng thầm chưa bao giờ kể hết. Giữa bộn bề chuẩn bị Tết, tiếng cười hồn nhiên thơ trẻ va chạm với nỗi mỏi mệt của tuổi già, hiển thị một không khí vừa ấm áp vừa chênh chao, rất đời. Truyện như một lát cắt nhỏ, nơi đó Tết không nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà ở sự có mặt của nhau, ở việc người này lặng lẽ san sẻ gánh nặng với người kia. Và khi “vườn trẻ” được chăm chút, tiếng trẻ rộn ràng vang lên, Tết dường như đến sớm hơn để ở lại lâu hơn... (Nhà phê bình HOÀNG ĐĂNG KHOA) |
Truyện ngắn của TỐNG NGỌC HÂN