Nhà thơ Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ (1918), mất năm Bính Ngọ (1966), quê ở làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là xã Minh Tân, tỉnh Ninh Bình). Người hiện diện trên đời 48 năm và để lại cho độc giả gần 1.000 bài thơ. Nguyễn Bính là người trộn hồn vào cảnh mới vẽ nên bức tranh quê thuần Việt, là người đưa được ngày xưa vào hôm nay và đưa người hôm nay về với ngàn xưa dân tộc.
Nguyễn Bính đến với văn học bằng cái tôi, không phải cái tôi nhà Nho, cái tôi tiểu tư sản, mà cái tôi của người nông dân Việt Nam bước ra từ vườn ruộng, từ cây chanh, cây bưởi, giậu mồng tơi: "Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê" hay "Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn"...
Một người đẹp thì đẹp từ cái mũi, đôi mắt đến ngón tay, sợi tóc... Thơ Nguyễn Bính được nhiều đối tượng, nhiều lớp người thích. Học trò thì thích "Trường huyện"; người già thích "Những bóng người trên sân ga"; kẻ giang hồ mang chí anh hùng mà lỡ vận thì thích "Hành phương Nam": "Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi!"; còn người đang yêu có vô số bài để thích... Nhưng điểm nhìn hút nhất, "mắt thơ" Nguyễn Bính chính là mùa xuân.
Tại sao là mùa xuân? Mùa xuân là mùa ánh sáng. Mùa của tình yêu và sự sống. Yêu-sống là bản chất của người Việt. Vì thế mà người Việt yêu “Cỏ non xanh tận chân trời” của Nguyễn Du; yêu “Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm” của Huy Cận... Và tôi tin, đọc câu thơ: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy” của Nguyễn Bính, không lòng ai không háo hức. Không còn là câu thơ tả cảnh, tả tình mà là một câu thơ cứu rỗi, câu thơ dẫn đạo. Cái kỳ diệu của thơ Nguyễn Bính chính là ở đây: Nó không phải là điều ông nói với người khác, mà thức dậy ở trong lòng người khác-người đọc quên tác giả, không thấy bóng dáng tác giả, mà như chính mình đang nhận thấy, đang nói lên. Câu thơ giản dị mà đầy quyến rũ. Nó cởi bỏ ưu phiền, dâng niềm phấn chấn, kêu ta về cái phơi phới của mùa xuân, nhận lấy sức mạnh của người mẹ tự nhiên, xanh tươi hồn trẻ!
Sở dĩ "bữa ấy mưa xuân phơi phới bay" vì còn một người em gái bên khung cửi, "lòng trẻ còn như cây lụa trắng", còn "hội chèo làng Đặng" chưa diễn đã xôn xao; còn một người tình chờ trong đêm hội. Một mối tình cụ thể có thể bị lỡ, nhưng lời hẹn lứa đôi thì mỗi xuân một rạo rực... Lớp lớp hoa xoan rụng là tả thực, nhưng thêm chữ “vơi đầy”, câu thơ được ảo hóa để tả lớp lớp tâm trạng con người và tạo nên lớp lớp ý nghĩa của bài "Mưa xuân".
Bởi thế mà khi đọc hai câu thơ ấy của Nguyễn Bính, nhà văn Tô Hoài từng thốt lên: “Tầm vóc, thật tầm vóc mỗi câu thơ Nguyễn Bính”. Còn trong "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh-Hoài Chân cũng đã bình rằng: "Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong lòng ta"; là "hồn xưa của đất nước"...
Bài thơ "Xuân về" là một viên ngọc khác lấp lánh vẻ đẹp nhiều màu trong thơ thi sĩ của làng quê. Đẹp nhất là má hồng của những cô gái chưa chồng, của đôi mắt trong trẻo hơn cả trời trong. Tôi băn khoăn không biết gọi đây là một hội xuân náo nức hay một bức tranh tĩnh vật, hay cả hai. Trong hội xuân ấy, từ con người đến cảnh vật đều ở trong tình thái đẹp nhất. Mưa thì tạnh, trời thì quang, cây lá như tráng bạc và vạn vật đều phấn chấn như bầy trẻ con tung tăng chào đón mùa xuân: "Từng đàn con trẻ chạy xun xoe/ Mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe"...
Trẻ thì đến thế, mà sâu cũng đến tận cùng: Cây gậy trúc biết giác ngộ Phật pháp, biết dắt bà già đến cõi niết bàn: "Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa/ Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt niệm nam mô".
Tôi muốn nói thêm một màu xuân, màu Tết gắn với cuộc đời riêng của thi sĩ Nguyễn Bính. Dường như, trong cuộc đời đào hoa mà cũng nhiều phụ bạc của Nguyễn Bính, có một điều gì đó giống với tình yêu, rất sâu sắc, rất chung thủy. Đó là trường hợp chị Trúc.
Trong cuốn "Nguyễn Bính và tôi" (Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, tái bản năm 1999), nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn cho biết: Chị Trúc là Lê N.Th, quê ở Hà Đông, "người xinh đẹp, nhỏ nhắn, da trắng, môi hồng, mũi dọc dừa, có đôi mắt trong như nước thu... tháo vát, quán xuyến, ăn nói có duyên, được nhiều người quý mến". Bài thơ "Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời để dành riêng để tặng nàng" trong tập "Mười hai bến nước" được Nguyễn Bính viết ở Hà Đông năm 1938: "Một cười héo cả trăm hoa nở/ Say cả non sông, đắm cả giời/ Đuổi cả mối sầu muôn vạn kiếp/ Bẽ bàng tất cả những màu tươi"...
Còn đây là người chị trong "Lỡ bước sang ngang": "Chuyến này chị bước sang ngang/ Là tan vỡ giấc mộng vàng từ nay". Là người sau này trở thành vợ của anh trai Nguyễn Bính-kịch tác gia Trúc Đường-Nguyễn Mạnh Phác (1911-1983). Chị Trúc vừa là một người chị, vừa là người tình trong mộng. Để dứt áo, Nguyễn Bính vào Nam: "Em đi mất tích một mùa xuân/ Đi để chôn vùi “hận ái ân”/ Không hiểu nghe ai mà chị biết/ Em về, chị gởi một vuông khăn" ("Khăn hồng").
Vào Nam rồi, nỗi nhớ ấy không nguôi, Nguyễn Bính chỉ biết say: "Chiều nay thương nhớ vào thành/ Ngất ngây rượu uống một mình cũng say..." ("Một chiều say", Huế, năm 1941).
Chọn một mùa xuân để đi mất tích, nhưng nỗi nhớ không bao giờ mất được. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, ông lại nhớ chị Trúc da diết. Năm 1942, ông viết bài "Xuân tha hương" gửi chị Trúc: "Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng/ Ôi, chị một em, em một chị/ Trời làm xa cách mấy con sông.../ Đêm nay em thức thi cùng nến/ Ai biết tình em với núi sông/ Mấy sông mấy núi mà xa được/ Lòng chị em ta vẫn một lòng"...
Tết năm 1943, ở Sài Gòn, Nguyễn Bính lại gửi chị Trúc bài thơ "Xuân vẫn tha hương": "Em đi non nước xa khơi quá!/ Mỗi độ xuân về bao nhớ thương"...
Chị Trúc là bất hạnh hay hạnh phúc của Nguyễn Bính? Thật khó lòng mà biết. Chỉ biết rằng, những câu thơ xót xa, cay đắng mà tràn đầy yêu thương ấy chuốt ngọc hồn ta, bồi đắp yêu thương, nâng niu tình yêu, hạnh phúc tưởng chừng giản đơn như một món ăn thôn dã, một bàn tay trìu mến bên ta... mà thật ra là cả một thiên đường!
Vì sao Nguyễn Bính không hề nói đến sự áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, phong kiến, sự nghèo khổ của nông thôn Việt Nam trước cách mạng như Ngô Tất Tố đã tả rất hiện thực trong "Tắt đèn", hay trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao?
Đó chính là điểm khác biệt rất cơ bản giữa nhà thơ và nhà văn. Nhà văn nhìn rõ hiện tượng bên ngoài, coi trọng chi tiết, tìm cách lý giải các nguyên nhân của hiện tượng và tình trạng xã hội, nêu ra những yêu cầu của một thời đại và góp phần giải quyết nó. Nhà thơ cũng trọng chi tiết, nhưng là những chi tiết mang tính biểu tượng và dùng nó để liên kết với mọi người, mọi thời đại. Nhà văn thiên nhìn vào sự vật, thể hiện sự phát triển câu chuyện và tính cách trong tính logic. Nhà thơ nhìn sâu vào tâm tình, dâng lên những lớp sóng tràn trề cảm xúc, những đám cháy yêu thương, khát vọng. Thời gian của văn xuôi có giới hạn. Thời gian của thơ vô hạn. Đọc văn cần nghiền ngẫm. Đọc thơ chỉ cần một va chạm, va đập đã đủ làm bùng lên sự thảng thốt.
Có thể nói, thơ Nguyễn Bính được ví như một bảo tàng về quê hương làng cảnh và tâm hồn người Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Và cũng có thể nói là một hồn quê muôn thuở. Nguyễn Bính chọn cái đẹp của con người và làng quê Việt để ngợi ca, ngợi ca một cách say đắm là điều vĩ đại nhất của Nguyễn Bính, là chất người và cũng là chất thiên tài của ông.
Nhà thơ NGUYỄN SĨ ĐẠI