Ngọn đuốc soi đường cho quốc dân đi
Năm 1930, Đảng ta ra đời không chỉ mở ra con đường giải phóng dân tộc về chế độ chính trị mà còn đặt nền móng cho một cuộc cách mạng văn hóa sâu sắc. Bản “Đề cương về văn hóa Việt Nam” (năm 1943) do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo với 3 nguyên tắc là dân tộc-khoa học-đại chúng đã trở thành kim chỉ nam, huy động sức mạnh của trí thức, văn nghệ sĩ góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thoát khỏi ách nô lệ, trở thành nước Việt Nam độc lập. Xuất hiện đồng thời cùng với hai dòng văn học lãng mạn và hiện thực, dòng văn học cách mạng với những tên tuổi như: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng (tức Trường Chinh)... đã khởi đầu cho truyền thống dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh của văn nghệ sĩ.
Trải qua hơn 80 năm kể từ khi bản đề cương ra đời, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối văn hóa, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, là hồn cốt của dân tộc. Điều này được minh chứng qua những di sản đồ sộ mà các thế hệ văn nghệ sĩ đã tạo ra, đặc biệt trong hai giai đoạn rực rỡ nhất là hai cuộc kháng chiến trường kỳ (1945-1975) và thời kỳ đổi mới, hội nhập (từ năm 1986 đến nay).
Bản hùng ca vĩ đại của dân tộc
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự định hướng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, VHNT Việt Nam đã thực hiện một cuộc lột xác ngoạn mục. Từ chỗ là tiếng nói của những cái tôi cá nhân nghệ sĩ đơn lẻ, bế tắc, VHNT đã trở thành tiếng nói của cả một dân tộc anh hùng, trở thành một lá cờ trên tuyến đầu kháng chiến.
Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” trở thành lý tưởng sống của cả một thế hệ. Những nghệ sĩ lớn đã rời bỏ cuộc sống tiện nghi ở thành thị để dấn thân vào khói lửa chiến trường, “vô sản hóa” cùng công-nông-binh.
Văn học thời kỳ này mang cảm hứng sử thi, là giai đoạn của những bản anh hùng ca bằng chữ. Những tác phẩm như tiểu thuyết “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, “Nắng đồng bằng” của Chu Lai hay những trang nhật ký rực lửa như “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” và “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc đã khắc họa chân dung những con người Việt Nam không biết cúi đầu. Thơ ca cách mạng đạt đến đỉnh cao với những tập thơ như “Việt Bắc” của Tố Hữu, hay những vần thơ đầy kiêu hãnh về người lính trong “Tây tiến” của Quang Dũng. Sang đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước xuất hiện những tên tuổi thơ ca nổi bật như Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Thanh Thảo...
Âm nhạc và hội họa cũng trở thành vũ khí tinh thần. Những giai điệu của “Hò kéo pháo” (Hoàng Vân), “Tiến bước dưới quân kỳ” (Doãn Nho) đã vang lên như những mệnh lệnh tấn công. Trong hội họa, bức sơn mài “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của Nguyễn Sáng hay “Kéo pháo vào Điện Biên Phủ” của Dương Hướng Minh trở thành biểu tượng của ý chí cách mạng.
Đặc biệt, điện ảnh và nhiếp ảnh cách mạng ra đời ngay trong khói lửa chiến tranh ở chiến khu Đ, chiến khu Việt Bắc. Những thước phim tư liệu và ảnh báo chí về Chiến dịch Điện Biên Phủ hay cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 không chỉ là tư liệu lịch sử quý giá mà còn là những tác phẩm nghệ thuật có sức lay động quốc tế, minh chứng cho khát vọng hòa bình của một dân tộc không bao giờ khuất phục.
Trong giai đoạn này, dù điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn cùng với hoàn cảnh chiến tranh gian khổ nhưng tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ lại bùng nổ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để ghi nhận cho những đóng góp này, Nhà nước đã trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT đợt 1 (1996) cho 44 tác giả/nhóm tác giả tiêu biểu nhất, trong đó đa số là những tên tuổi đã tỏa sáng trong giai đoạn 1945-1975. Cho đến nay, qua 6 đợt trao giải (từ năm 1996 đến 2022), đã có 136 tác giả, đồng tác giả được vinh danh Giải thưởng Hồ Chí Minh, là giải thưởng danh giá nhất của quốc gia dành cho các văn nghệ sĩ. Nhưng thành tựu lớn nhất không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm mà ở việc VHNT đã góp phần thống nhất ý chí của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975.
    |
 |
Bức tranh "Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ" của họa sĩ Nguyễn Sáng được công nhận là bảo vật quốc gia, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
|
Khẳng định "sức mạnh mềm" Việt Nam
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) không chỉ là bước ngoặt về kinh tế mà còn là một cuộc cách mạng tư tưởng trong VHNT. Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1987) đã mở ra bầu trời tự do sáng tạo, cho phép nghệ sĩ nhìn thẳng vào sự thật, đi sâu vào những vấn đề thế sự, nhân sinh.
Từ sau năm 1986, VHNT Việt Nam chuyển dịch từ cảm hứng ngợi ca sang cảm hứng chiêm nghiệm, phản biện và nhân bản sâu sắc với sự đa dạng trong phong cách và tư duy nghệ thuật. Những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai... đã làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn về hiện thực và con người. Sự xuất hiện của thế hệ những nhà văn trẻ và dòng văn học hải ngoại mang nặng tâm tình quê hương cho thấy một sự tiếp nối không đứt đoạn và ngày càng phong phú.
Trong lĩnh vực sân khấu, điện ảnh, kịch của Lưu Quang Vũ với hơn 50 vở diễn đã tạo ra một hiện tượng văn hóa chưa từng có, phản ánh những bức xúc của xã hội thời kỳ đầu đổi mới. Trong khi đó, điện ảnh Việt Nam vẫn tiếp nối truyền thống của điện ảnh cách mạng thời kỳ 1945-1975 bằng những tên tuổi nổi bật trong dòng phim chiến tranh, lịch sử như: Đạo diễn Hồng Sến với “Cánh đồng hoang”, đạo diễn Long Vân với “Giải phóng Sài Gòn”... và đặc biệt gần đây đã có bước tiến dài với những bộ phim đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng như “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối” của Bùi Thạc Chuyên và lập kỷ lục về doanh thu như “Mưa đỏ” của Đặng Thái Huyền, đồng thời tạo hiệu ứng xã hội sôi nổi chưa từng có. Ngoài ra cũng phải nhắc đến các tác phẩm nghệ thuật đạt giải quốc tế mà tiêu biểu là “Bên trong vỏ kén vàng” của Phạm Thiên Ân (với giải tác phẩm đầu tay tại Liên hoan phim Cannes 2023).
Nghị quyết số 33-NQ/TW (năm 2014) và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 tiếp tục nhấn mạnh việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam. Trong thời đại 4.0, Đảng định hướng văn nghệ sĩ phải vừa là người "giữ lửa" cho các giá trị truyền thống như chèo, tuồng, đờn ca tài tử-những di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh vừa là người tiên phong tiếp nhận tinh hoa nhân loại.
VHNT thời kỳ này đã thể hiện bản lĩnh trong việc đấu tranh chống lại các biểu hiện suy thoái đạo đức, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam hòa bình, năng động và giàu bản sắc.
Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp văn hóa cũng trở thành một động lực mới của nền kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua Nghị quyết số 33-NQ/TW (năm 2014) và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, văn hóa đã thực sự trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Theo số liệu từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp doanh thu tương đương 3,61% tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào năm 2018; con số này tăng lên 3,92% GDP vào năm 2021 và đạt khoảng 4,04% GDP vào năm 2022. Giá trị sản xuất của các ngành này ước đạt 44 tỷ USD trong giai đoạn 2018-2022.
Vị thế quốc tế của Việt Nam về VHNT cũng được nâng cao. Tính đến tháng 1-2026, Việt Nam hiện có 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, cùng hàng loạt thành phố sáng tạo (Hà Nội, Hội An, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh) tham gia mạng lưới của UNESCO. Điều này khẳng định "sức mạnh mềm" của Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Sứ mệnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tại các phiên thảo luận chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, vấn đề xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo đang chi phối toàn cầu, Đảng xác định VHNT phải là pháo đài bảo vệ bản sắc dân tộc, đồng thời là động cơ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đóng góp cho phát triển kinh tế. Những mục tiêu chiến lược đề ra là: Phát triển con người làm trung tâm, tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ vừa có tâm vừa có tầm, có khả năng kiến tạo những tác phẩm đạt tầm vóc quốc tế. Hoàn thiện thể chế VHNT với các luật, các quy định phù hợp với hoàn cảnh mới và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý. Phấn đấu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP. Hội nhập với tinh thần chủ động, đưa VHNT Việt Nam ra với thế giới không chỉ bằng những giá trị truyền thống mà bằng cả những hình thức nghệ thuật đương đại, hiện đại.
Gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, VHNT Việt Nam đã viết nên những trang sử bằng hình ảnh, âm thanh, màu sắc, đường nét, hình khối và ngôn từ vô cùng sống động. Nếu giai đoạn 1930-1945 là sự kiến tạo nền móng vững vàng, giai đoạn 1945-1975 là khúc tráng ca vĩ đại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thì giai đoạn từ năm 1986 đến nay là bản hòa ca của sự sáng tạo và hội nhập.
Tin tưởng rằng bước vào nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIV, với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, nền VHNT nước nhà sẽ tiếp tục có những mùa vàng bội thu, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, khẳng định bản lĩnh và tâm hồn Việt trên trường quốc tế.
TS HÀ THANH VÂN