1. Trong "Đời viết văn của tôi", Nguyễn Công Hoan có nói về những yếu tố gia đình ảnh hưởng đến đời văn của mình là vốn dòng dõi thanh quan (nghèo trong) nên ông ghét bọn nhà giàu giả dối, bất nhân. Bản tính nghịch ngợm, thích tìm kiếm những yếu tố gây cười trong đời sống nên khi cầm bút, ông có xu hướng từ những tình huống gây cười, chủ yếu do sự giả dối của người đời tạo ra mà lột trần tất cả những "cảnh xuống" trong một "xã hội ba đào" (chữ dùng của ông).

Nguyễn Công Hoan bước vào đời văn vì những lý do, như ông nói, cũng rất đặc biệt: Mỗi tuần hứa viết thư cho bạn một lần, sợ không có gì kể nên đành viết truyện, phải viết ngắn vì viết dài sợ tốn tiền mua tem. Cho dù ông nói thế nhưng đó cũng không phải là lý do chính mà chỉ là một trong những lý do cụ thể để các tác phẩm của ông có hình hài như vậy.

Phần lớn truyện của Nguyễn Công Hoan khi ông ở Lào Cai đều ngắn, có những truyện tách ra thành hai ba kỳ nhưng nhìn vào những vấn đề, nội dung, cách viết, nhân vật, cảm hứng của truyện thời kỳ này chúng ta lại thấy ông lựa chọn cách viết ấy và chỉ viết như vậy mới hợp tạng của ông. Khi đã nổi danh ông vẫn giữ cách viết ban đầu, chỉ có điều nó nhuần nhị và chặt chẽ hơn: Ngắn gọn, kết cấu chặt chẽ; dường như mỗi câu chuyện chỉ xoay quanh một tình huống.

Ông giữ mục "Xã hội ba đào ký" trên báo của Tản Đà và chỉ chuyên viết về những "cảnh xuống" của đời người mang hai dòng cảm hứng rõ rệt. Thứ nhất là sự đồng cảm, sẻ chia thấm đẫm thái độ bênh vực, bảo vệ những người yếu thế trong xã hội. Thứ hai là sự phẫn nộ, khinh bỉ, căm giận những bọn bất lương, lắm của, nhiều quyền nhưng giả dối, tâm địa nhỏ nhen, ích kỷ, bất nhân bất nghĩa. Cảm hứng nhân đạo thấm đẫm trong tác phẩm của ông. Có thể nói cùng thời với ông, chưa có nhà văn nào đạt tới điều này.

Quan niệm “tả chân” (chủ nghĩa hiện thực phê phán cổ điển) đã khiến ngòi bút của ông giàu sức tố cáo, phê phán xã hội dưới chế độ thực dân phong kiến. Đúng là ông chỉ viết về những điều nhỏ nhặt, kiếp sống của những kẻ dưới đáy xã hội nhưng tinh thần nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa phản kháng những bất công bùng nổ trong các truyện ngắn của ông. Cuối thập niên 1920, đầu thập niên 1930, các truyện ngắn của ông đã chiếm lĩnh văn đàn, thổi một luồng sinh khí mới vào văn học Việt Nam, kéo văn chương đến sát đời sống và mang ý nghĩa phản kháng lớn.

leftcenterrightdel

 Nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ảnh tư liệu 

Theo hồi ký của một nhà văn cùng thời thì độc giả đón đọc Nguyễn Công Hoan để được tiếp cận với một giọng điệu khác, một tình cảm khác và một hy vọng khác. Những truyện in trong tập "Kiếp hồng nhan", "Kép Tư Bền" của Nguyễn Công Hoan mang cảm hứng khác hẳn các nhà văn thời thượng. Góc nhìn tố cáo những mặt trái xã hội, thái độ bênh vực những người dưới đáy không phải từ góc nhìn từ trên xuống, mang ý nghĩa nhân đạo kiểu ban phát mà như tiếng nói của người trong cuộc. Nó mang đến một âm hưởng khác hẳn. Nó tạo ra những tiền đề quan trọng để những nhà văn hiện thực phê phán khẳng định vị trí của dòng văn học này và mở ra những góc nhìn khác nữa mà tất cả đều có chung một cách tiếp cận vấn đề, chung một cảm hứng: Viết về cuộc sống như nó có với một tư tưởng nhân đạo khác.

Khi Nguyễn Công Hoan rời xa góc nhìn này trong một số tiểu thuyết mang dấu ấn lãng mạn, tình cảm như "Tắt lửa lòng", "Lá ngọc cành vàng", "Tấm lòng vàng"...  ý nghĩa xã hội trong sáng tác của ông đã khác. Nó không còn ý nghĩa tố cáo quyết liệt, không mang sắc thái nhân đạo như truyện ngắn hay một tiểu thuyết về đề tài nông dân cùng viết trong những năm này.

 2. Người ta hay nói đến việc Nguyễn Công Hoan đến giữa thập niên 1930 đã đưa truyện ngắn Việt Nam đến độ cổ điển. Cổ điển ở kết cấu chặt chẽ, ở việc xây dựng những tình huống truyện, ở những chi tiết nghệ thuật có sức gợi mở lớn, ở chỗ sử dụng tiếng cười như một vũ khí đấu tranh...

Đương thời người ta hay nói đến những truyện ngắn của ông như một tuyển tập những "tấn trò đời", trò nào cũng cười ra nước mắt. Cách khai thác những hoàn cảnh éo le của đời sống ở tầng sâu tư tưởng nhưng lại gắn với những hành vi rất thật, rất tự nhiên của con người như một màn kịch ngắn diễn ra trước mắt người đọc, không tỉa tót, không gia công mà cứ như đặc quánh cảnh ngộ, cuộc đời, dở khóc dở cười. Chuyện anh kép Tư Bền phải diễn trò mua vui cho thiên hạ khi cha anh đang hấp hối, chuyện người kéo xe khốn khổ mới ốm dậy đêm Ba mươi Tết chạy chuyến xe cuối cùng mong kiếm cái Tết lại gặp phải cô gái ăn sương ế khách, hết tiền. Cả hai đều không kiếm được tiền mà chưa thể giải quyết được chuyện tiền công thì pháo Giao thừa đã nổ. Kiếp người ngựa và ngựa người khổ như nhau. Người đọc cười vì tình huống oái oăm nhưng rơi nước mắt chia sẻ trước sự cực khổ éo le của họ...

Cái tài của Nguyễn Công Hoan là ông luôn tìm thấy cái trái đạo lý trong những hành vi nhân danh đạo lý, cái gây cười trong những tình huống trái tai, gai mắt và gài vào đó những câu thoại, chi tiết rất đắt, đẩy sự việc đi tới đỉnh điểm và vỡ ra ý nghĩa nhân sinh. Phần lớn những truyện thời kỳ này của ông chỉ đụng chạm đến vấn đề đạo đức và xung đột chính vẫn là xung đột giữa đạo đức với vô luân, giữa sự lưu manh với điều tử tế, giữa lòng nhân ái với sự khốn nạn, giữa lối sống của người giàu với người nghèo.

Đến giai đoạn sau ông đi vào những vấn đề mang ý nghĩa chính trị xã hội như ông thừa nhận lúc đó những vấn đề xã hội đã thấm vào nhận thức ông nhiều hơn. Ông cho rằng xung đột chính trong xã hội không chỉ là xung đột giàu nghèo, đạo đức và vô đạo mà ở mỗi con người, địa vị xã hội, sự gắn bó lợi ích với những tầng lớp người đã từng bước bộc lộ trong những quan tâm và lý giải của ông. Góc nhìn ấy thể hiện một ý thức xã hội đậm nét hơn trước của ông.

leftcenterrightdel
Cuốn sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan. 

 3. Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy truyện ngắn. Nhưng về tiểu thuyết ông cũng là một tay cự phách. Dấu ấn hiện đại trong tiểu thuyết của ông rất đậm nét.

Đề tài đa dạng, nội dung phong phú, áp sát những vấn đề xã hội đương thời. Ngay cả cuốn "Tắt lửa lòng" về đề tài tình yêu lãng mạn, bế tắc được chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng "Lan và Điệp" cũng có nhiều điều mới mẻ về xây dựng tính cách, nghệ thuật tiểu thuyết. Các cuốn "Cô giáo Minh", "Ông chủ", "Lá ngọc cành vàng", "Tranh tối tranh sáng" là những cuốn sách mà nhiều nhà văn mơ ước cả một đời cầm bút. Còn "Bước đường cùng" là đỉnh cao về quan niệm xã hội và thái độ bênh vực những người nông dân của ông. Những cảm xúc phản kháng bị dồn nén lâu nay của ông gần như bung ra hết trong tác phẩm này. Đây là cuốn tiểu thuyết áp sát đời sống nhất của ông, phù hợp với logic lịch sử, phản ánh trực tiếp nhất xung đột xã hội lớn nhất thời ấy.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao... đều viết về xung đột giữa nông dân với địa chủ mang màu sắc xung đột quyền lợi, xung đột xã hội, giai cấp và trong cuộc đối đầu này người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng. Tinh thần phản kháng của các nhà văn hiện thực trước các vấn đề xã hội đã được các nhà hoạt động chính trị, các nhà văn theo xu hướng Mác-xít đánh giá rất cao bởi tác phẩm của họ góp phần thức tỉnh lòng căm thù sự đàn áp, bất công trong xã hội, nuôi dưỡng khát vọng thay đổi.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Công Hoan tích cực đi theo kháng chiến, dùng ngòi bút của mình phục vụ sự nghiệp cách mạng. Khi Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên bởi uy tín văn chương ông đã được ghi nhận. Sự nghiệp đồ sộ của ông đóng góp cho nền văn học nước nhà, được Nhà nước, nhân dân, bạn bè đồng nghiệp ghi nhận. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên); nguyên Giám đốc Trường Văn hóa Lý Thường Kiệt; nguyên Chủ nhiệm tờ Quân nhân học báo; nguyên biên tập viên Báo Vệ Quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân); Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của Báo Văn nghệ).


 PGS, TS PHẠM QUANG LONG