(Tiếp theo và hết)
Ký ức tươi nguyên

Theo Đại tá Khưu Ngọc Bảy, hồi ấy, Đoàn 962 có 4 bến tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc vào, gồm: Vàm Lũng (Cà Mau), A10 (Bến Tre), B22 (Trà Vinh) và Bà Rịa-Vũng Tàu. Riêng tại bến Vàm Lũng thuộc xã Tân An, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), ông Bảy cùng đồng đội đưa đón 66 lượt tàu cập bến an toàn, bảo quản kho vũ khí có thời điểm hơn 1.000 tấn.

“Trung tuần tháng 4-1966, đơn vị nhận tin của cấp trên và Đoàn 125 (nay là Lữ đoàn 125 Hải quân), Tàu 69 vừa rời Hải Phòng. Theo đó, nếu thuận lợi, khoảng một tuần sau sẽ cập một trong hai cảng là cửa Bồ Đề hoặc Vàm Lũng. Đêm 22-4, cả đơn vị có mặt tại vị trí, dõi mắt ra biển đón tàu nhưng đến 4 giờ sáng hôm sau, cấp trên thông báo: “Tàu 69 đã vào vùng không phát sóng liên lạc nữa”. Chúng tôi nhận định có hai tình huống: Một là Tàu 69 đụng địch, bị thương, hai là cập nhầm bến. Tuy nhiên, khả năng thứ nhất sớm bị loại vì đêm trước đó không xảy ra tác chiến trên biển nên phương án thứ hai xem như chắc chắn", ông Bảy nhớ lại.

Trước tình hình ấy, đơn vị tổ chức nhiều tốp đi dọc bờ biển kiểm tra các vàm sông để tìm tàu nhưng vẫn không có dấu hiệu. Trời nhá nhem tối thì nữ giao liên Thanh Thương hớt hải về báo: “Đã gặp tàu anh Năm Phước (Nguyễn Hữu Phước, Thuyền trưởng Tàu 69) đang ém tại lạch Vàm Hố”, cả đơn vị tức tốc lên đường. "Anh Năm Phước cho biết, địch tuần tra dữ quá, tàu phải luồn lách né tránh, lại gặp đêm tối nên khi cập bờ mới biết nhầm bến. Khi đó đã hơn 4 giờ sáng, không thể ra biển được đành phải ém lại chờ cơ hội. Đợt ấy, Tàu 69 vận chuyển thành công 72 tấn vũ khí tiếp tế cho chiến trường Tây Nam Bộ", ông Bảy kể.

Tuy nhiên, sau chuyến hải trình, tàu bị hỏng chân vịt. Tưởng rằng tàu phải xa biển vì không có cách nào nâng con tàu nặng hàng chục tấn lên khỏi mặt nước để sửa chữa, anh Tư Mau nghĩ ra một sáng kiến là lợi dụng lúc triều lên, lai dắt tàu vào một con rạch, lấy cây đước làm giá đỡ dưới bụng tàu. Vậy là lúc triều xuống, toàn bộ con tàu nằm yên trên giá đỡ, chân vịt lộ ra. Đồng thời, một đại đội được huy động làm đập ngăn nước quanh tàu. Xưởng sửa chữa “có một không hai” được hình thành ngay dưới lòng sông. Sau một tuần sửa chữa, Tàu 69 lại được hạ thủy, sẵn sàng ra khơi làm nhiệm vụ.

Đêm 1-1-1967, nhận định địch nghỉ Tết dương lịch, đơn vị tổ chức cho Tàu 69 rời cửa Vàm Lũng, đồng thời bố trí lực lượng yểm trợ. Khi rời bến khoảng 30 hải lý, từ trên đài quan sát, ông Bảy nhìn bên trái nhiều làn đạn mỗi lúc càng dữ dội. Nghĩa là tàu bị lộ và hải quân địch đang vây đánh. Lập tức, toàn đơn vị chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu đón tàu quay lại. Mười phút sau, một tốp máy bay địch đến thả pháo sáng khiến cả vùng biển sáng như ban ngày. Tiếng súng mỗi lúc một gần bờ, ông thấy rõ Tàu 69 đang “quay” giữa 4 tàu của địch, vừa đánh trả quyết liệt, vừa cơ động vào bờ. Khi tàu cách cửa Bồ Đề hơn 5 hải lý, nếu vào đó, dọc đường sẽ bị chúng bắn chìm. Ông Tư Mau ra lệnh cho ông Bảy phát tín hiệu tàu vào Vàm Lũng vì khoảng cách gần hơn. Nhờ quyết định kịp thời, tàu cập bến an toàn. Thế nhưng, tàu bị hỏng nặng và không thể sửa chữa nên đành nằm lại với đất rừng phương Nam.

leftcenterrightdel

Đại tá Khưu Ngọc Bảy (giữa) cùng đồng đội ôn lại kỷ niệm về thời quân ngũ.

Trả nợ bằng thơ

Suốt những năm dài kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tuổi trẻ của ông Bảy gắn liền với những chuyến tàu không số. Ông nhớ lại: “Trước khi tàu cập bến, bộ đội trên bờ truy quét địch quyết liệt để tàu vào đúng giờ, khẩn trương vận chuyển vũ khí. Việc che giấu, phân phối, bảo quản vũ khí cũng vô cùng vất vả nhưng không một ai rời bỏ nhiệm vụ. Nhiều đồng đội vĩnh viễn nằm lại trên biển, ở các bến bãi... Nhiều lúc cảm xúc trào dâng nên tôi gửi vào thơ như trả nợ đồng đội và bà con miền biển Cà Mau”.

Và những câu thơ xuất phát từ một trái tim yêu quê hương, đất nước nồng nàn, tha thiết đã ra đời: "Mến yêu sao miền biển của ta/ Những Khai Long, Rạch Gốc, Rạch Già/ Đây Bồ Đề, Kiến Vàng, Vàm Lũng/ Những dòng sông chở ngập phù sa" (“Bài ca miền biển”). Hay trong bài “Biển ở Cà Mau", tác giả nhắn nhủ: "Biển lại đầy và biển lại vơi/ Đất trôi lở rồi đất bồi thêm bãi/ Đồng đội ơi! Rạch Gốc còn đợi đấy/ Dù đi đâu xin một chuyến quay về!”.

Đến nay, Đại tá Khưu Ngọc Bảy đã xuất bản 4 tập thơ: “Ngôi sao trên biển”, “Buổi sáng cuộc đời”, “Biển và những dòng sông”, “Thơ và người lính”. Tuy thơ của người lính chiến năm xưa không mới về thi pháp nhưng đẹp về tình cảm, ngôn từ và giàu hình tượng. Bởi đó là cảm xúc thật, là hơi thở ngân rung từ chính cuộc đời của tác giả; là tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn và nghĩa quân-dân nồng ấm. Năm tháng ấy, bộ đội ở nhà dân được chăm sóc, chở che bảo đảm an toàn. Những ngày thiếu nước ngọt, thiếu gạo, các má, các chị không quản ngại vào rừng bắt cua, hái trái mắm, đi theo ghe, xuồng đến các bến có nước ngọt chở về nuôi bộ đội. Trong bài “Rừng”, tác giả có nhiều liên tưởng: “Má ngồi nhỏm nhẻm nhai trầu/ Dưới kinh nước chảy qua cầu khẽ reo/ Má mong nghe tiếng xuồng chèo/ Các con trong cứ vẫn thường qua đây/ Nhớ thời khởi nghĩa Hòn Khoai/ Muốn xây căn cứ phải xây lòng người/ Như hải âu yêu biển trời/ Người trong cứ không xa rời Nhân dân/ Tiếng lòng năm tháng vẫn ngân/ Mênh mông tình mẹ sáng trong tình người/ Ta yêu rừng lắm rừng ơi/ Bởi rừng là cứ, rừng là Nhân dân”.

Đặc biệt, trường ca “Bến cảng giữa rừng” mang đậm chất sử thi với khí phách anh hùng và tình yêu dân tộc. Hơn thế nữa, nó như bản tình ca của người lính biển trong bão dông vẫn hiên ngang tiến về phía trước.

leftcenterrightdel

Đại tá Khưu Ngọc Bảy (thứ ba, từ phải sang) kể về những con tàu không số.    Ảnh do nhân vật cung cấp

Đường Hồ Chí Minh trên biển hoàn thành sứ mệnh lịch sử 14 năm thì cũng từng ấy thời gian Đại tá Khưu Ngọc Bảy hoàn chỉnh tác phẩm này. Trong đó có những câu thơ ám gợi về tình đồng đội: “Nước triều lên Vàm Lũng lại dâng đầy/ Có con tàu chiều nay vĩnh viễn không về bến/ Anh ngồi khóc và anh lần tay nhẩm/ Chép vào lòng tên những bạn bè anh... Anh đắp lên giữa rừng những nấm mộ vô danh/ Trên bùn nhão viết tên đồng đội/ Trong vốc nước mặn tê đầu lưỡi/ Ngỡ có máu bạn bè chảy về tận nơi đây... Nếu anh còn qua hết cuộc chiến tranh này/ Anh sẽ gói phù sa mang về khắp trong Nam, ngoài Bắc/ Những người ngã xuống vì Tổ quốc/ Chẳng thể nào vô danh”.

Chính cảm xúc chân thật giúp trường ca “Bến cảng giữa rừng” đoạt giải C của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Việt Nam năm 2015; đồng thời đoạt giải thưởng Phan Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau (đồng hạng) 5 năm (2011-2016) lần thứ 3.

Có thể nói, đến thời điểm hiện tại, Đại tá Khưu Ngọc Bảy, hội viên Hội Nhà văn TP Cần Thơ là tác giả duy nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long “kể chuyện thơ” về Đường Hồ Chí Minh trên biển qua ký ức về những con tàu không số, những bến đỗ năm xưa, những đồng đội hy sinh khi làm nhiệm vụ ở cực Nam của Tổ quốc.

KIÊN GIANG - THÀNH TÂM