Thời gian đã lùi xa, nhưng trong tâm trí cụ Bát, ký ức về những lần cùng đồng đội ở Đoàn tàu không số làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược từ Bắc vào Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn vẹn nguyên.

Trốn nhà đi bộ đội

Trong suốt câu chuyện, điều làm chúng tôi ấn tượng nhất là ánh mắt của cụ Bát. Kể về những việc mình đã trải qua trong chiến tranh, ánh mắt cụ khi thì trìu mến, lúc lại xúc động nhớ đến giây phút bước qua lằn ranh sinh tử.

Năm 1952, chàng thanh niên Phạm Văn Bát vừa bước sang tuổi 16 đã trốn nhà đi bộ đội. Từ xóm Long Bối (hay còn gọi là “xóm Bọng Rện”-xóm sâu xa nhất của làng Bái), Phạm Văn Bát lội bộ qua những con mương, đi xuyên qua cánh đồng làng Cốc để đến chỗ tuyển quân, xung phong ghi tên vào bộ đội. Đến cánh đồng làng Cốc, cách nhà chừng 1km, người anh trai (Phạm Tất Trác) của Phạm Văn Bát là đi làm đồng bắt được, lôi cổ về nhà, bắt lấy vợ để giữ chân, không cho em trai mình đi bộ đội.

Khi đó, chiến tranh chống Pháp đang bước vào giai đoạn khốc liệt, nên anh Trác hết sức lo lắng cho đứa em mới lớn. Và để giữ chân em trai ở nhà, không có cách nào hay hơn là bắt Bát lấy vợ. Sau đó cả nhà mang cau trầu sang làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng), cách làng Bái một quãng đồng, hỏi cô thiếu nữ Cầu Thị Thái, sinh năm 1934, hơn Bát 2 tuổi về làm vợ cho em. Nhưng, quyết tâm của Phạm Văn Bát không suy chuyển. Tháng 9-1953, Phạm Văn Bát trốn nhà đi bộ đội, để lại người vợ trẻ ở quê...

Cụ Bát kể lại câu chuyện tròn 70 năm về trước đầy hóm hỉnh, ánh mắt trìu mến nhìn cụ Thái vợ mình, lúc này lưng đã còng vì tuổi cao, đang lúi húi dọn dẹp phòng thờ. Cụ Bát cho biết, ngày hôm nay, đúng ngày giỗ của cụ Phạm Tất Điếu-thân sinh của cụ Bát.

Gặp gỡ và trò chuyện với cụ Bát, ít ai ngờ, người lính của Đoàn tàu không số lừng lẫy năm xưa, dù sắp bước sang tuổi 90 nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn, ánh mắt tinh anh, giọng nói đầy nội lực. Dáng người cao lớn, lưng cụ Bát vẫn rất thẳng, nước da sạm đen như hun đồng-dấu ấn của những năm tháng gắn bó với Đoàn tàu không số. Chiếc giường cá nhân trong căn phòng nhỏ nơi cụ nghỉ, chăn gối gấp thẳng thắn, vuông thành sắc cạnh như ngày trong quân ngũ. “Nó ăn vào máu rồi, không thay đổi được. Tác phong của cụ nhà tôi vẫn giữ nguyên như thời trong Quân đội” - ông Phạm Văn Hữu, con rể cụ Bát nói về cha vợ của mình như thế.

Ông nội của cụ Bát-cụ Phạm Tất Nhạ, người con duy nhất của quê hương làng Bái khi còn trẻ cũng xung phong gia nhập đoàn quân nông dân của cụ Kỳ Đồng (tên thật là Nguyễn Văn Cẩm, sinh năm 1875 tại làng Ngọc Đình, xã Duyên Hà, nay là xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) lên Yên Thế, Bắc Giang theo nghĩa quân của cụ Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) chống Pháp. Cụ Kỳ Đồng sau đó trở thành một trong những thủ lĩnh dưới quyền của cụ Đề Thám, được cụ Đề Thám trọng vọng, coi là “quốc sư” của nghĩa quân. Hiện, phần mộ cụ Phạm Tất Nhạ vẫn ở quê hương Yên Thế, Bắc Giang. Lịch sử huy hoàng của cha ông, dòng tộc, tấm gương của ông nội có lẽ đã hun đúc thêm ý chí quyết tâm, lòng yêu nước của cụ Phạm Văn Bát.

Tháng 9-1953, chiến sĩ Phạm Văn Bát được biên chế vào Đại đội 59, Tiểu đoàn 48, Trung đoàn 57, Đại đoàn 304 (nay là Sư đoàn 304). Tháng 4-1961, Phạm Văn Bát được phong quân hàm thượng sĩ, giữ chức vụ Trung đội trưởng. Từ tháng 4-1961 đến tháng 4-1964, Phạm Văn Bát được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1).

leftcenterrightdel

Cựu chiến binh Phạm Văn Bát. 

 Sẵn sàng tự “truy điệu sống”

Ra trường với quân hàm thiếu úy, Phạm Văn Bát nhận nhiệm vụ về công tác tại Tàu 68, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 125 (đơn vị có những con tàu không số) từ tháng 4-1964 cho đến tháng 12-1975. Đơn vị có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược tiếp tế cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào, nhân dân miền Tây Nam Bộ.

Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào giai đoạn khó khăn, ác liệt. Từ năm 1961, chủ trương của ta thành lập đội tàu vận chuyển lương thực, vũ khí tiếp tế cho đồng bào miền Nam, khi đó bắt đầu với 3 con tàu gỗ trọng tải 30 tấn mang tên Phương Đông 1, 2, 3. Tháng 10-1962, Xưởng 3 ở Hải Phòng đóng những con tàu sắt đầu tiên, hiện đại hơn so với tàu gỗ, tải trọng từ 50 đến 100 tấn. Một buổi tối, các tàu này xuất phát từ cảng Đồ Sơn, chạy ra Hạ Long sơn lại toàn bộ vỏ tàu theo màu xanh dương để ngụy trang như những tàu đánh cá của ngư dân. Sau khi đã sơn lại vỏ, không còn số hiệu, tàu tiếp tục hành trình đến đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhận lương thực, thực phẩm do nước bạn Trung Quốc viện trợ để tiếp tế cho miền Nam. Khi đến hải phận của Trung Quốc gần đảo Hải Nam, đã có tàu hải quân Trung Quốc đợi sẵn dẫn đường, đi trước là tàu phá lôi.

Theo lời cụ Bát thì khác với các đơn vị Không quân, Lục quân, nhiệm vụ của người chiến sĩ Hải quân trên Tàu không số là tìm cách tránh địch để bảo vệ hàng hóa, vũ khí trang bị; giữ bí mật tuyệt đối không để địch phát hiện ra tuyến vận tải đặc biệt. Trên mỗi tàu đều được cài sẵn những khối thuốc nổ lớn ở mũi, thân và đuôi tàu với các loại kíp nổ tức thì được khởi động bằng tay và bằng điện. Trước mỗi cuộc hành trình, thủy thủ đoàn đều được đơn vị tổ chức “Lễ truy điệu sống”. Bởi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu bị địch phát hiện, thủy thủ đoàn sẽ tự kích nổ, hủy tàu để giữ bí mật.

Trong năm 1965, Thiếu úy Phạm Văn Bát tham gia vận chuyển an toàn, trót lọt 2 chuyến tàu hàng vào Cà Mau. Tháng 1-1966, trên Biển Đông, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động mạnh, Tàu 68 tạm dừng vận chuyển. Năm 1967, đơn vị chuẩn bị hải trình vận chuyển hàng hóa, đạn dược, vũ khí vào bãi Ngang. Trong hai năm 1968 và 1969, Tàu 68 của Phạm Văn Bát mở đường vào sông Gianh (Quảng Bình), làm nhiệm vụ liên tục 23 hải trình. Đến chuyến thứ 24, Tàu 68 gặp sự cố bị lật, đoàn thủy thủ gồm 17 người an toàn, nhưng Tàu 68 đã nằm lại biển khơi. Năm 1970, Phạm Văn Bát được điều chuyển sang làm nhiệm vụ tại Tàu 154. “Không phải hành trình nào cũng an toàn, trót lọt. Khi phát hiện máy bay địch, tàu tuần tra của địch theo dõi, bám đuôi, chúng tôi phải cắt mọi liên lạc trên tàu, không liên hệ với đất liền... để địch không dò ra được tần số sóng của ta. Trên tàu trang bị hỏa lực nhưng trùm lưới đánh cá kín mít để ngụy trang. Trường hợp gặp địch, sẽ phải phá hủy tàu để bảo đảm bí mật, bảo đảm vũ khí, đạn dược không rơi vào tay địch”, cụ Bát chia sẻ.

Một trong rất nhiều chuyến tham gia vận chuyển hàng hóa, đạn dược, vũ khí chi viện cho miền Nam mà cụ Bát nhớ nhất, là chuyến hải trình của Tàu 154 vào sông Gành Hào (Cà Mau). Khi tàu chuẩn bị cập bến thì xuất hiện máy bay địch. Ngay lập tức, chỉ huy tàu yêu cầu máy trưởng bẻ lái, hướng con tàu ra phía biển mà không theo hành trình cũ. Máy bay do thám của địch bám theo hàng giờ đồng hồ, khi thấy chiếc “tàu đánh cá” lùi lũi tiến ra khơi mới chịu rời đi. Lúc này, tàu mới tiếp tục quay lại hành trình cũ và giao hàng an toàn.

Đất nước hòa bình, thống nhất, Phạm Văn Bát tiếp tục công tác tại một số đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân. Năm 1982, cụ Bát nghỉ hưu. Năm 2011, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Đoàn tàu không số, cụ Bát được gặp lại đồng đội cũ với bao kỷ niệm xưa ùa về. Các CCB Đoàn tàu không số và cụ Bát được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận, đánh giá cao những cống hiến, hy sinh lặng lẽ, âm thầm-những người sẵn sàng tự “truy điệu sống” góp phần làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để Bắc Nam nối liền một dải. 

Khi nghỉ hưu trở về địa phương, CCB Phạm Văn Bát luôn tích cực tham gia phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Nhiều năm liền, cụ Bát tham gia công tác đoàn thể ở xã Đông Hợp. Là hội viên Hội CCB, hội viên Hội người cao tuổi, cán bộ lão thành cách mạng, cụ Bát luôn là tấm gương sáng, niềm tự hào của quê hương để thế hệ trẻ học tập, noi theo.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để chi viện vũ khí, hàng hóa, nhân lực cho cách mạng miền Nam, cùng với con đường vận tải Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở tuyến đường vận tải chiến lược trên Biển Đông. Trong 14 năm làm nhiệm vụ vận tải chiến lược trên biển (1961-1975), Lữ đoàn 125 đã huy động gần 1.900 lượt tàu thuyền, vận chuyển hơn 152.000 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thuốc chữa bệnh và hơn 80.000 cán bộ, chiến sĩ từ Bắc vào Nam.


Bài và ảnh: THÁI BÌNH