Thơ cổ điển phương Đông và sự hình thành một mẫu mực thẩm mỹ về mùa thu

Trong văn học Trung Quốc, hình ảnh mùa thu xuất hiện từ rất sớm trong “Kinh Thi”, một trong những cội nguồn quan trọng của thơ ca phương Đông. Tư tưởng phương Đông không xem 4 mùa như những phần tách rời mà coi đó là biểu hiện của một trật tự vận động có tính chu kỳ của vũ trụ, trong đó con người không đứng ngoài mà sống bên trong nhịp vận hành ấy. Vì thế khi nhìn lá rụng, người xưa không chỉ thấy một chiếc lá mà thấy thời gian đang đi qua đời sống. Khi nghe tiếng nhạn trên trời, họ không chỉ nhận ra một đàn chim di trú mà còn nghĩ đến phương xa, cố hương và sự biệt ly. Từ những quan sát cụ thể, mùa thu dần trở thành một “mã văn hóa”, một kho hình tượng mà nhiều thế hệ thi nhân có thể cùng sử dụng nhưng vẫn tạo nên những ý nghĩa khác nhau.

Thơ thời Đường của Trung Quốc đã góp phần quan trọng làm cho mùa thu trở thành một thế giới nghệ thuật tương đối hoàn chỉnh. Chùm thơ “Thu hứng” gồm 8 bài của Đỗ Phủ là một trong những đỉnh cao của thi ca mùa thu Trung Hoa. Trong đó, cảnh rừng phong, sương móc, sóng nước, mây trời, hoa cúc và con thuyền không chỉ tạo ra một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ mà còn chứa đựng nỗi đau thời thế, tâm trạng lưu lạc và niềm nhớ quê của nhà thơ. Hai câu Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô chu nhất hệ cố viên tâm (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ/ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà-Nguyễn Công Trứ dịch) đã gắn hoa cúc và con thuyền với nước mắt quá khứ cùng tấm lòng đau đáu hướng về quê cũ.

Nếu thơ Đường thường thiên về lá rụng, sương lạnh, tiếng nhạn và nỗi sầu lữ thứ thì thơ ca cổ điển Nhật Bản lại đặc biệt nhạy cảm với khoảnh khắc chuyển mùa, những âm thanh rất khẽ và những vẻ đẹp đang trên đường tàn phai. Matsuo Basho là nhà thơ nổi tiếng nhất của Nhật Bản thời kỳ trung đại và những bài thơ haiku tả cảnh mùa thu của ông được xem là một kiệt tác trong không gian mỹ học Nhật Bản.

Từ những thi liệu ước lệ đến mùa thu của làng cảnh Việt Nam

Ảnh hưởng của Đường thi đối với văn học Việt Nam thể hiện trước hết ở thể thơ, niêm luật, phép đối, cấu trúc đề-thực-luận-kết và nghệ thuật cô đọng hình ảnh. Quan trọng hơn, thơ Việt Nam tiếp nhận bút pháp tả cảnh ngụ tình cùng hệ thống thi liệu quen thuộc như: Trăng, sương, nhạn, cúc, lá vàng, ngô đồng, lầu cao, dòng sông và con thuyền... Nhưng tiếp nhận không có nghĩa là sao chép nguyên vẹn. Các nhà thơ Việt Nam đã từng bước đặt những quy ước ấy vào khí hậu, cảnh quan, tiếng nói và truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc, làm nên diện mạo riêng của thơ thu Việt Nam.

leftcenterrightdel

Hồ Gươm chiều thu. Ảnh: NSNA PHẠM CÔNG THẮNG 

Trong văn học Việt Nam, cảm thức mùa thu đã hiện diện khá rõ trong thơ thời Lý-Trần. Do ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, các nhà thơ và thiền sư thời kỳ này thường nhìn sự biến đổi của thiên nhiên từ ý thức về sự vô thường. Cảnh thu không hoàn toàn đồng nghĩa với bi lụy mà có thể mở ra sự tĩnh tại, một khoảnh khắc để con người nhận thức quy luật sinh diệt và tìm kiếm sự an nhiên trong những biến đổi.

Sự Việt hóa hình tượng mùa thu đạt đến một thành tựu đặc biệt trong thơ Nguyễn Khuyến. Ông vẫn sử dụng thể thất ngôn bát cú Đường luật, vẫn tuân thủ kết cấu nghiêm ngặt và giữ được vẻ thanh nhã của thơ cổ điển. Tuy nhiên, cảnh vật trong chùm thơ 3 bài “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm” là một mùa thu có không gian, khí hậu, màu sắc và thanh âm cụ thể của Đồng bằng Bắc Bộ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sự độc đáo của Nguyễn Khuyến nằm ở chỗ ông không phủ nhận thi pháp thơ Đường mà làm cho hình thức ấy mọc rễ vào đất Việt. Cái cao rộng của thơ cổ điển được đặt bên cái nhỏ bé, thân thuộc của làng quê. Bầu trời xanh ngắt tương ứng với ao nước trong veo; tiếng ngỗng xa xăm được đặt cạnh tiếng cá đớp động dưới chân bèo. Ngôn ngữ thơ cũng đặc biệt Việt Nam. Những từ “trong veo”, “tẻo teo”, “vắng teo”, “lơ lửng”, “khẽ đưa vèo” vừa tạo nhạc điệu vừa biểu hiện cảm giác tinh vi về không gian. Có thể nói, Nguyễn Khuyến đã thực hiện một cuộc chuyển đổi quan trọng từ mùa thu của thư phòng và điển cố thành mùa thu của thôn xóm; từ phong cảnh mang tính quy ước thành một bối cảnh cụ thể; từ nỗi buồn lữ thứ của Đường thi thành tâm sự của người nho sĩ Việt Nam trong hoàn cảnh mất nước.

Mùa thu và sự thức tỉnh của cái tôi trong phong trào Thơ mới

Bước vào phong trào Thơ mới, mùa thu trở thành không gian tự biểu hiện của cái tôi cá nhân, nơi nhà thơ nói về cô đơn, tình yêu, tuổi trẻ, sự chia lìa và nỗi lo âu trước thời gian. Trong “Đây mùa thu tới”, Xuân Diệu vẫn sử dụng những chất liệu quen thuộc nhưng ông không sắp xếp chúng theo lối cổ điển. Rặng liễu được hình dung như người đàn bà đang chịu tang, tóc buông thành những hàng lệ. Cành cây “khô gầy”, lá “run rẩy”, trăng “ngẩn ngơ”, khí trời mang “hận chia ly”. Cảnh vật không chỉ phản ánh cảm xúc mà dường như cũng biết lạnh, biết run và biết đau. Cái lạnh “luồn trong gió”, màu sắc phai dần, sự vắng vẻ lan từ khu vườn đến chuyến đò và cuối cùng đi vào tâm hồn người thiếu nữ. Bởi vậy, mùa thu trong thơ Xuân Diệu không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là bằng chứng về sự hữu hạn của đời người.

Trong “Tiếng thu”, Lưu Trọng Lư lại cảm nhận mùa thu bằng thính giác và bằng miền sâu của ký ức. Câu hỏi “Em không nghe mùa thu” được lặp lại như một lời gọi mơ hồ, dẫn người đọc vào thế giới của trăng mờ, người chinh phụ, người cô phụ, rừng vắng và tiếng lá khô. Hai câu: Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô đã trở thành một trong những hình ảnh tiêu biểu của Thơ mới. Có thể nhận ra Thơ mới vừa kế thừa truyền thống “bi thu” của phương Đông vừa tiếp nhận cảm quan lãng mạn và tượng trưng của thơ phương Tây.

Từ mùa thu của cái tôi đến mùa thu của lịch sử và đất nước

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mùa thu trong thơ Việt Nam mang thêm một trường nghĩa mới. Đây không chỉ là một mùa khí hậu mà còn là mùa của cách mạng, độc lập và sự ra đời của một thời đại mới. Từ đây, hình tượng mùa thu đã kết nối ký ức cá nhân với ký ức cộng đồng. Bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi không hoàn toàn là một bài thơ chuyên tả mùa thu, nhưng cảm hứng lớn về đất nước lại được khơi nguồn từ một buổi sáng thu: Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới.

Trong phần đầu bài thơ, mùa thu là ký ức của người ra đi, với cái “chớm lạnh”, những phố dài xao xác, hơi may và thềm nắng đầy lá rơi. Nhưng từ nỗi nhớ Hà Nội, mạch thơ mở ra mùa thu cách mạng, bầu trời và núi rừng của một đất nước đã có ý thức làm chủ. Trong văn học từ sau năm 1945, mùa thu vì thế thường có hai lớp nghĩa đồng hiện. Một lớp nghĩa vẫn thuộc về thiên nhiên với trời xanh, gió mát, lá rơi, hương cốm. Lớp nghĩa kia thuộc về lịch sử với mùa thu độc lập, mùa thu kháng chiến, mùa thu của tư thế công dân. Thơ ca không xóa bỏ vẻ đẹp muôn đời của thiên nhiên mà đặt vẻ đẹp ấy trong một nhận thức mới về đất nước, như Tố Hữu đã viết trong bài thơ “Theo chân Bác”: Hôm nay, sáng mồng hai tháng chín/ Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình.

Nhìn lại tiến trình lịch sử văn học, có thể thấy hình tượng mùa thu trong thi ca luôn được ưu ái, vừa mang tính kế thừa vừa không ngừng biến đổi. Có lẽ vì mùa thu là mùa của sự chuyển tiếp, đứng giữa sự viên mãn của mùa hạ và sự khép lại của mùa đông. Chính trạng thái chưa hoàn toàn kết thúc nhưng đã bắt đầu phai tàn làm cho mùa thu dễ tạo ra những cảm xúc nội tâm. Mặt khác, mùa thu đánh thức ý thức về thời gian, gần với ký ức, sự tổng kết, trưởng thành và cảm thức tuổi tác. Mùa thu cũng tạo nên một môi trường đặc biệt thuận lợi cho cảm giác thẩm mỹ. Một tiếng lá rơi, một làn gió se, một mùi hương thoảng hoặc một vệt mây cũng có thể trở thành tín hiệu của mùa thu. Thơ ca vốn là nghệ thuật của sự tinh tế và hàm súc, đặc biệt phù hợp với những chuyển động gần như vô hình ấy. Cuối cùng, mùa thu đã tích lũy một kho ký ức liên văn bản rất lớn. Mỗi nhà thơ khi viết về mùa thu đều đang ít nhiều đối thoại với những bài thơ đi trước.

Chính sức nặng truyền thống ấy đặt ra thách thức cho các nhà thơ phải tìm được mùa thu của riêng mình. Những thi phẩm hay nhất thường xuất hiện khi nhà thơ vừa kế thừa truyền thống vừa làm lệch khỏi quy ước. Mùa thu của đất trời có thể lặp lại mỗi năm, nhưng mùa thu trong thơ ca không bao giờ hoàn toàn lặp lại. Cảnh vật có thể vẫn là trăng, gió, sương, lá, mây và dòng nước, nhưng chủ thể nhìn ngắm đã đổi khác, tâm thế cũng khác. Bởi vậy, đọc thơ về mùa thu cũng là đọc tâm trạng con người, cảm nhận thiên nhiên và nhớ về những sự kiện lịch sử, văn hóa gắn với mùa thu.

TS HÀ THANH VÂN