Tín ngưỡng thờ Mẫu (hay thường gọi đạo Mẫu, thờ Mẫu Tam phủ, Mẫu Tứ phủ) là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Đây là một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi... có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa, thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của con người trong cuộc sống.
Hầu đồng (hầu bóng) ngày xuân là một hình thức lễ nhạc gắn với nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, được đông đảo nhân dân thành tâm thực hiện với mục đích tạo cảm xúc, theo niềm tin con người giao tiếp với thần linh, để cầu mong thần linh phù hộ quốc thái dân an, cuộc sống con người no ấm, hạnh phúc.
    |
 |
Nghi lễ hầu đồng thường được thực hành phổ biến ở các địa phương vào dịp đầu xuân. Ảnh: NGỌC HÀ
|
Theo các nghiên cứu của GS Ngô Đức Thịnh (1944-2020), nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa, chưa có tài liệu nào khẳng định được thời điểm ra đời của hầu đồng. Tài liệu khảo cổ cho biết hầu đồng đã có mặt từ thế kỷ 18, đó là bức chạm gỗ một cảnh lên đồng ở đình Cổ Mễ (tỉnh Bắc Ninh). Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì hầu đồng ra đời từ thế kỷ 16 gắn với sự hiến thế giáng sinh của Liễu Hạnh-vị nữ thần duy nhất trong "tứ bất tử" của thần điện Việt.
Hầu đồng có tất cả 36 giá đồng, trong đó thanh đồng là chủ trì chính, trực tiếp thực hiện các nghi lễ, nghi thức nhằm tái hiện hình ảnh, tính cách, cuộc đời, công lao của vị thánh được hầu. Vì thế, trong hầu đồng không bao giờ thiếu các cung văn, đó là người sẽ hát cùng ban nhạc các làn điệu hát văn phục vụ hầu đồng.
Hát chầu văn trong hầu đồng phong phú về hình thức biểu diễn, trong đó nổi bật là hát thi (văn thi), hát thờ (văn thờ) và hát lên đồng (văn hầu). Khi đất trời đã căng tràn sức xuân, mọi người thành tâm tề tựu về điện thờ dâng hương, dâng lễ, tỏ lòng thành kính mong cầu sức khỏe, bình an, hạnh phúc, mọi việc hanh thông, những giai điệu chầu văn khi thì dìu dặt khoan thai, lúc lại ngân nga trầm bổng, sâu lắng vọng vang càng tô đậm vẻ đẹp, khí thiêng của đất trời tiết xuân sang.
Hát chầu văn là hát lên những bài ca có nội dung ngợi ca sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp của tiên giới. Tùy theo cuộc đời, sự nghiệp của các vị thần đang hầu để có nội dung ca từ, tiết tấu, giai điệu âm nhạc, vũ điệu (múa) đi cùng linh hoạt thực hiện theo. Không khí linh thiêng, sự phấn khích của niềm tin và sự cộng hưởng của các "chất men" kích thích như: Trầu, rượu, thuốc lá/thuốc lào và ánh sáng lung linh của đèn, nến, mùi hương trầm, sắc màu của phục trang, thanh âm của nhạc cụ, cùng với sự ngưỡng vọng của người xem tạo nên một không gian huyền ảo, xa xôi mà gần gũi, huyền bí mà trao truyền cảm xúc, nơi gặp gỡ, giao lưu của con người trần gian với thánh thần.
Trong không gian huyền ảo ấy, các Thánh mẫu nghe lời ca chúc tụng của các đệ tử, nghe hát và nghe cả những lời thỉnh nguyện thầm kín trong tâm đệ tử. Thánh mẫu hoan hỷ ban tài, phát lộc cho “bách gia trăm họ” và mọi người được nhận lộc thánh với niềm tin hân hoan vô cùng. Tự tâm mọi người đều hướng về Thánh mẫu, thầm mong những điều tốt đẹp đến với mình và mọi người, lan tỏa những điều nhân ái.
Trong 36 giá đồng từ đời xưa truyền lại, mỗi giá đồng thể hiện một nhân vật có tên tuổi và tính cách riêng. Giá các Đức ông thì uy phong lừng lẫy, múa kiếm như nước, bắn cung như gió thoảng, giá các Cô thì dịu dàng, duyên dáng, e ấp, giá các Cậu thì tinh nghịch, hồn nhiên...
Thực hành hầu đồng, các thanh đồng múa, hát các điệu theo tính cách của từng giá đồng, khán giả tấu lên những làn điệu chầu văn lời ca tả nhân vật của giá đồng, tả quang cảnh nhân vật xuất hiện, ngợi ca thần tích, công đức của thánh... Trang phục của các thánh tương ứng với 36 giá đồng rất phong phú nhưng được quy định chặt chẽ, phụ thuộc vào sự tích của nhân vật.
Nếu thánh ở miền nhạc phủ (rừng xanh), thanh đồng mặc phục trang có những họa tiết của đồng bào dân tộc thiểu số; phục trang của các Chầu bà thường rất lộng lẫy vì đó là hóa thân của Mẫu; các Cô thì mặc áo tứ thân điển hình của thôn nữ vùng Đồng bằng Bắc Bộ; quan lớn thì mặc uy nghi như các vị quan trong triều đình phong kiến. Các phục trang đi cùng như khăn, mũ, giày cũng được thiết kế rất đẹp, tinh tế, công phu. Trang sức vòng cổ, vòng tay được chế tác cầu kỳ, tinh xảo cho thấy sự đa dạng, phong phú trong phục trang, đạo cụ người Việt xưa. Vì thế, hầu đồng có thể được coi là lễ hội sống động của thi ca, âm nhạc, vũ đạo, mỹ thuật dân gian...
Về thi ca xướng lên trong hầu đồng là sự tiếp biến nhuần nhuyễn của thi ca bác học và thi ca bình dân. Ở đó có sự kết hợp hài hòa giữa phú, Đường thi và những bài ca dao lục bát, song thất lục bát, hát nói bình dị của văn học dân gian Việt Nam. Ca từ trong hầu đồng được đầu tư biên soạn công phu vừa giàu điển tích "ý tại ngôn ngoại", hình ảnh, nhạc điệu, nhưng cũng có đoạn hết sức bình dị, quen thuộc. Sự phong phú về làn điệu khi hát đã làm lời ca bay bổng, du dương mà gần gũi, đi vào tâm thức, cảm xúc của người nghe.
Về âm nhạc, đàn nguyệt cùng phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông nhỏ được hòa âm theo lối phối khí truyền thống, tiết tấu độ biến hóa theo nội dung lời ca. Sự tiếp thu những nét đẹp trong nhạc cụ dân gian đã hình thành nên những liên khúc chuyển tải nhiều nội dung.
Về vũ đạo, múa trong hầu đồng còn gọi là múa thiêng. Các hình thức thể hiện như múa tính cách (thể hiện tính cách nhân vật), múa trang trí (chú trọng ngôn ngữ tạo hình), múa mô phỏng (cưỡi ngựa, chèo thuyền, đi mây về gió...) đã được vận dụng tích hợp đi cùng với lời ca vừa minh họa cho nội dung lời ca vừa đẩy cảm xúc của người xem lên nhiều cung bậc mới.
Không gian thực hành hầu đồng đa màu sắc với những giải pháp mỹ thuật tương ứng, tượng trưng và khái quát. Trang phục được lựa chọn tinh tế: Màu đỏ tượng trưng cho trời cao, quyền lực và sự chở che; màu xanh lá cây tượng trưng cho núi rừng, cây cỏ và sự hòa nhập vào thiên nhiên; màu trắng tượng trưng cho nước, sự thanh khiết và bình yên... Các chi tiết của phục trang được lựa chọn từ các chất liệu quý: Áo dài màu đỏ thẫm may từ vải gấm hoặc lụa tơ tằm, thêu hoa văn rồng phượng đi cùng khăn vấn đầu và khăn dải lụa cùng màu; áo dài trắng thêu hình sông nước, hoa sen. Các phụ kiện vòng cổ, vòng tay được lựa chọn từ vàng, bạc, ngọc với những đường nét chạm khắc tinh xảo. Sống động trong không gian cờ ngũ sắc, quạt giấy, quạt lụa, quạt lông vũ được pha màu tinh tế, tương ứng. Kiếm, đao, ô dù được cách điệu về kích thước và sắc màu.
Giao hòa, hội tụ nhiều lĩnh vực nên hầu đồng đã trở thành một lễ hội sống động văn hóa Việt, thu hút người xem, mang đến cho người xem nhiều cảm xúc thiêng liêng trong những ngày đầu xuân năm mới. Vì thế, nghi lễ hầu đồng luôn sống mãi cùng sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
Xin mượn lời nhận xét của GS, TS Laurel Kell, Trưởng bộ môn Nhân lực Bảo tàng Tự nhiên (Mỹ), người nhiều năm nghiên cứu về hầu đồng, đạo Mẫu thay cho lời kết: "Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Việt Nam. Mẫu là vị thánh tối thượng, mọi người có thể tìm đến Mẫu vào mùa xuân để chia sẻ những khó khăn, hy vọng, ước muốn. Điểm hấp dẫn nhất của tín ngưỡng này là hầu đồng, nghi lễ lên đồng. Đây là nghi thức tâm linh độc đáo, khi ông đồng, bà cốt mặc trang phục của thần linh, nhảy múa trong âm nhạc và lời ca miêu tả vị thần đó, mọi người được tận hưởng bầu không khí lễ hội xuân độc đáo, linh thiêng, vui tươi, theo dõi hàng giờ không biết mệt vì được sống trong không gian, tín ngưỡng của riêng họ giữa những ngày xuân".
NGUYỄN KHẮC THUẦN