Ngày 24-11-2021, tại Paris (Pháp), Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Nghị quyết số 41C/15 để UNESCO cùng kỷ niệm 67 sự kiện và danh nhân (năm sinh, năm mất), do các quốc gia đề nghị. Trong đó có hai danh nhân của Việt Nam: Nhà thơ Hồ Xuân Hương (kỷ niệm 250 năm Ngày sinh và 200 năm ngày mất) và nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (kỷ niệm 200 năm Ngày sinh).

 Đó là vinh dự, tự hào của mọi người dân Việt Nam, bởi đây là danh nhân thứ 5 và 6 của nước ta được UNESCO vinh danh, sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh và Chu Văn An. Ở đây, tôi chỉ bàn đến Nguyễn Đình Chiểu, người được tôn vinh là nhà thơ dựng nên những tượng đài anh hùng chân đất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập thời kỳ đầu.

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1-7-1822, tại tỉnh Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh). Ông mất ngày 3-7-1888, tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Ðình Chiểu đã theo cha chạy giặc. Từ một cậu ấm con quan, bỗng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn, trả thù, chém giết. Lớn lên, bị bệnh mù lòa, bị gia đình giàu có bội ước, công danh dang dở. Mặc dù cuộc đời Nguyễn Ðình Chiểu gặp nhiều bất hạnh, nhưng lúc nào ông cũng gắn bó với nhân dân. Tuy sống trong cảnh mù lòa nhưng Nguyễn Ðình Chiểu đã tiến thân thành danh bằng con đường hành đạo của mình. Ông đã mở lớp dạy học, viết văn và bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Lúc nào ông cũng quan tâm, lo lắng cho chiến sự. Ở đâu ông cũng làm cùng một lúc ba nhiệm vụ của ba người tri thức để cứu dân, giúp đời.

Ông là một nhà thơ sống trong một giai đoạn lịch sử không bình thường của Việt Nam giữa và cuối thế kỷ 19. Là trí thức, Nguyễn Đình Chiểu quan tâm, lo lắng cho vận mệnh dân tộc. Đất nước có chiến tranh, Nguyễn Đình Chiểu thương trẻ em, phụ nữ, người già, mắt mù lòa nhưng tấm lòng trong sáng, nên ông viết chân thực về nỗi đau khổ mà họ phải chịu đựng. Lo lắng cho con người trong thời loạn là thái độ nhân văn cần nêu cao khi mà thế giới vẫn có khả năng xuất hiện các cuộc chiến tranh quốc gia và khu vực. Sáng tạo của Nguyễn Đình Chiểu có phần đồng dạng với sáng tạo của Homer, tác giả sử thi bị mù lòa của Hy Lạp từ thế kỷ 7-6 trước Công nguyên. Tác phẩm của ông được sử dụng để chuyển thể thành các loại hình nghệ thuật khác, như: Nói thơ Vân Tiên, cải lương Vân Tiên, phim Vân Tiên, nhạc kịch Vân Tiên. Ở Việt Nam, chỉ có "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu có được điều này.

leftcenterrightdel

Chân dung cụ đồ Chiểu.    Tranh do Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu cung cấp

Về mặt tư tưởng, “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu lúc chúng đặt chân lên đất nước chúng ta” (Phạm Văn Đồng). Thời kỳ lịch sử mà Nguyễn Đình Chiểu sống là thời kỳ người Pháp xâm lược Nam Bộ, cuộc chiến tranh đặt con người trước những thử thách số phận không bình thường: “Mẹ già ngồi khóc trẻ”, “Vợ yếu chạy tìm chồng” trong không gian “Chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”. Là một nhà nho, trước vận mệnh dân tộc

Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

                                         (Chạy giặc)

Nguyễn Đình Chiểu quan tâm đến số phận con người, những mẹ già, vợ yếu, những dân ấp, dân lân. Chiến tranh xảy ra, muốn hay không, trẻ thơ vẫn là đối tượng chịu đựng nỗi khốn khổ nhất:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay

                                    (Chạy giặc)

Dù mắt mù lòa, nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn dành sự quan tâm cho số phận trẻ thơ thời loạn lạc. Đấy chính là tầm nhân loại của một nhà thơ lớn. Đáng chú ý, trong cuộc đời, nhà thơ gặp gỡ, bày mưu kế cho những người yêu nước như Trương Công Định, Phan Công Tòng, Đốc binh Là, Thủ khoa Huân... đánh quân xâm lược Pháp, và khi họ ngã xuống, ông cũng dành tấm lòng mình viết những áng hùng văn tạc họ vào lịch sử ngàn đời. Một Trương Công Định "Theo bụng dân... Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa... Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước..." và "Trong Nam tên họ nổi như cồn/ Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn...". Một Phan Công Tòng "Người ngọc ở Bình Đông/ Lớn nhỏ trong làng thảy mến trông/ Biết đạo khác bầy con mắt tục/ Dạy dân nắm giữ tấm lòng công" và "Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây", "Làm người trung nghĩa đáng bia son".

Đó là những nhân vật lịch sử anh hùng của nước ta chống lại thực dân Pháp xâm lược mà Nguyễn Đình Chiểu viết về họ. Các sáng tác đã tạc những anh hùng Trương Công Định, Phan Công Tòng vào lịch sử văn chương, từ lịch sử bước vào văn chương, qua trí tuệ, tài năng, tấm lòng của một nhà thơ lớn.

Áng văn có sức sống muôn đời chính là "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"-“Khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” (Phạm Văn Đồng). Lịch sử văn chương Việt Nam lần đầu tiên chứng kiến người nông dân Nam Kỳ lục tỉnh quanh năm “Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó/ Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu... Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó” bước lên vũ đài lịch sử, đánh giặc xâm lược đến từ phương Tây trong tư cách một người lính, mà “Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ/ Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi... gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay” qua sáng tác này của Nguyễn Đình Chiểu. Khắc họa chân thực, sâu sắc của một nhà thơ mù lòa về những nghĩa sĩ “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia” ("Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc") hoặc ở "Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh": “Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời; phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất... Nhớ phận áo cơm đất nước... Nghìn năm hồn phách nạn dân này, hồn phách mất tiếng oan nào mất” là những tượng đài lịch sử về nghĩa binh đánh giặc Pháp khi chúng vào xâm lược nước ta. Đó là bệ đỡ tinh thần cho những nông dân chân đất Nam Kỳ lục tỉnh sống mãi với lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Đến cuối đời, khi mà những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ đều thất bại, ông vẫn thể hiện rõ khí tiết của một nhà nho bất hợp tác với kẻ thù qua hình ảnh Kỳ Nhân Sư trong tác phẩm cuối cùng “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”. Các tác phẩm ấy của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên những bức tượng đài về các tướng lĩnh chống giặc ngoại xâm, những anh hùng chân đất lồng lộng trong văn chương, trong ký ức lịch sử muôn đời. Đang chiến tranh hay sau chiến tranh, có nhiều cách dựng tượng đài về các anh hùng chống giặc ngoại xâm, Nguyễn Đình Chiểu đã chọn cách riêng của mình, sáng tác về họ, dựng tượng đài về họ trong tác phẩm văn chương của mình. Hẳn những nghĩa sĩ vốn là nông dân chân đất hay tướng quân như Trương Công Định, hay một hương giáo như Phan Công Tòng phải hằn vào tâm thức một con người mù lòa, nên dù không trực tiếp nhìn thấy, mà Nguyễn Đình Chiểu vẫn dựng những tượng đài hoành tráng về họ.

Tư tưởng vì dân, yêu chuộng hòa bình là một tư tưởng của văn chương Việt Nam. Nếu Nguyễn Trãi, Nguyễn Du dành trọn tấm lòng, tâm hồn mình cho người dân trong tâm thế của người sáng mắt thì Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác những tác phẩm đậm đà tính nhân dân lại trong tâm thế của người mù lòa, nhưng tấm lòng Nguyễn Đình Chiểu sáng như trăng rằm, nên ông trân trọng lũ trẻ trong cảnh loạn lạc, mẹ già trông con, vợ yếu chờ chồng trong cảnh chiến tranh.

Có thể nói, Nguyễn Đình Chiểu nối tiếp tư tưởng vì người dân, vì con người của thơ ca Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. UNESCO vinh danh Nguyễn Đình Chiểu, chính là vinh danh những tượng đài anh hùng chân đất, những tướng quân, những thầy giáo làng đã có công lao chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam. Với những người lính, chúng ta có quyền tự hào về các anh hùng trong lịch sử dân tộc, trong các tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu. Bởi thế, Nguyễn Đình Chiểu được UNESCO cùng kỷ niệm 200 năm Ngày sinh của cụ vào năm 2022. Và những tượng đài anh hùng mà Nguyễn Đình Chiểu tạc vào lịch sử càng bất tử trong không gian và thời gian.

GS, TS NGUYỄN CHÍ BỀN