Tiếp sau Bản ghi nhớ 14 điểm được ký kết, các cuộc đàm phán kỹ thuật giữa Mỹ và Iran tại Thụy Sĩ đã bắt đầu với việc thành lập 4 nhóm công tác về dỡ bỏ lệnh trừng phạt, các vấn đề hạt nhân, tái thiết và phát triển kinh tế cũng như cơ chế giám sát và thực thi thỏa thuận.

Trên thực địa, tiếng súng đã tạm lắng, eo biển Hormuz-tuyến hàng hải huyết mạch trung chuyển tới 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng của thế giới đã thông thương trở lại. Lệnh cấm của Mỹ phần nào được tháo bỏ, mở đường cho các giao dịch liên quan đến dầu mỏ của Iran. Sau tín hiệu tích cực từ các cuộc đàm phán, lần đầu tiên kể từ tháng 3-2026, giá dầu thô WTI của Mỹ đã giảm xuống dưới 75USD/thùng.

Con tàu hòa bình đã bắt đầu rời bến, hướng tới đích cuối cùng là ký kết bản thỏa thuận chấm dứt cuộc xung đột Mỹ-Iran, cũng như tranh cãi giữa Washington và Tehran xung quanh chương trình hạt nhân của Iran. Sau thời gian dài sống trong bất ổn, Trung Đông giờ đã có thể nhìn về tương lai với những hy vọng.

leftcenterrightdel

Vòng đàm phán Mỹ - Iran tiếp theo dự kiến đề cập xung đột Hezbollah - Israel. Ảnh: Reuters 

Thế nhưng, chính vào thời điểm có tính bước ngoặt này, người ta lại thấy xuất hiện không ít nghi ngờ. Vấn đề là bởi quá khứ cho thấy các nỗ lực tìm giải pháp cho các cuộc xung đột tại khu vực phức tạp và đầy mâu thuẫn như Trung Đông chưa bao giờ dễ dàng, và cuộc xung đột Mỹ-Iran cũng không phải là ngoại lệ.

Kể từ cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979 đến nay, quan hệ Washington-Tehran luôn trong tình trạng đối đầu. Trong nhiều thập kỷ qua, biết bao cuộc tiếp xúc, đàm phán đã diễn ra, nhưng tất cả đều kết thúc trong đổ vỡ. Lý do là bởi niềm tin, yếu tố quan trọng nhất giúp hai bên có thể tìm thấy tiếng nói chung, luôn thiếu vắng.

Trong con mắt của Washington, Iran là “chế độ độc tài”, được cai trị bởi các “giáo sĩ cực đoan” có tư tưởng chống Mỹ. Đã thế, Tehran lại còn tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân, đồng thời toan tính mở rộng ảnh hưởng trong khu vực thông qua cái mà Mỹ và phương Tây gọi là “trục kháng chiến”, bao gồm lực lượng Hezbollah ở Lebanon, Hamas ở dải Gaza và Houthi ở Yemen. Sự đối đầu của Iran với đồng minh quan trọng của Mỹ ở Trung Đông là Israel càng làm cho quan hệ Washington-Tehran thêm căng thẳng.

Về phía Iran, Tehran không tin rằng Washington thực lòng trong các cuộc đàm phán. Iran cho rằng âm mưu sâu xa của Mỹ là tìm cách lật đổ chính quyền Tehran không thân thiện, như Mỹ đã từng thực hiện ở Iraq và Libya. Với Tehran, các động thái của Mỹ như trừng phạt trên diện rộng, cấm vận kinh tế, hỗ trợ chính trị cho các nhóm đối lập ở Iran là bằng chứng rõ ràng về mục tiêu chiến lược của Mỹ là thay đổi chế độ ở Tehran.

Khi ký vào thỏa thuận hạt nhân với nhóm P5+1 gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Iran từng tin tưởng vào lời hứa của Mỹ sẽ nới lỏng các biện pháp trừng phạt vốn đang bóp nghẹt nước này. Thế nhưng, khi ông Donald Trump lên nắm quyền, Mỹ lại đơn phương từ bỏ thỏa thuận và áp đặt chế độ trừng phạt khắc nghiệt nhất từ trước đến nay với Iran. Cũng chính Mỹ đã hai lần bất ngờ mở các cuộc không kích vào Iran ngay trong thời điểm các cuộc đàm phán đang diễn ra vào năm 2025 và 2026.

Sự thất hứa của Mỹ khiến Iran luôn cảnh giác trước các cam kết. Không những thế, với quan điểm của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, bất cứ sự nhượng bộ nào cũng có thể bị coi là phản bội. Còn trong chính giới Mỹ, tư duy cho rằng Iran tìm cách che giấu chương trình hạt nhân bất hợp pháp của mình gần như là định kiến bất biến, và vì thế, không thể thỏa hiệp với Tehran.

Khi niềm tin thiếu vắng từ cả hai phía, làm sao có thể hy vọng các cuộc đàm phán trong thời hạn 60 ngày, như cam kết nêu trong Bản ghi nhớ, sẽ sớm tìm được tiếng nói chung, nhất là khi nó lại liên quan đến các vấn đề đặc biệt phức tạp và nhạy cảm là phương cách giám sát chương trình hạt nhân, cũng như xử lý số uranium đã làm giàu của Iran.

Phản ứng của Israel với Bản ghi nhớ cũng khiến việc đưa nó vào thực thi gặp khó khăn. Là đồng minh thân cận, từng phối hợp chặt chẽ trong các chiến dịch quân sự nhằm vào Iran, nhưng theo thời gian, lợi ích chiến lược của Mỹ và Israel dần khác biệt. Sự rạn nứt thể hiện rõ nhất tại Lebanon, khi Israel muốn duy trì quyền tự do hành động quân sự đối với lực lượng Hezbollah, thì Mỹ lại coi chấm dứt xung đột ở Lebanon là một trong những điều kiện cần thiết để bảo đảm thành công của thỏa thuận với Iran.

Tel Aviv cũng không mấy hài lòng khi là một bên tham chiến nhưng lại không được tham gia vào quá trình đàm phán với Iran, cũng như không phải là một bên ký kết Bản ghi nhớ. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu từng công khai phản ứng khi tuyên bố: “Đây là thỏa thuận do Mỹ thực hiện và do Tổng thống Mỹ dẫn dắt. Ông ấy tin rằng có thể vừa mở lại eo biển Hormuz, vừa giải quyết vấn đề hạt nhân. Đó là quyết định của ông ấy”. Một khi Israel không chịu “trói tay” bởi Bản ghi nhớ và tiếp tục duy trì vùng đệm an ninh tại miền Nam Liban “chừng nào còn cần thiết cho an ninh quốc gia” như tuyên bố của ông Benjamin Netanyahu, các cam kết rất dễ bị vi phạm.

Thiếu vắng niềm tin vẫn là trở ngại lớn nhất trên con đường đi đến hòa bình ở Trung Đông.

TƯỜNG LINH