Cuộc xung đột này không phải biến cố bất ngờ, mà là hệ quả của cuộc đối đầu dai dẳng và không khoan nhượng giữa Mỹ và Iran. Từng là đồng minh chiến lược trong thời Chiến tranh lạnh, quan hệ Washington-Tehran đã nhanh chóng đảo chiều khi vị vua cuối cùng của Iran Shah Pahlavi, người được phương Tây hậu thuẫn, bị lật đổ trong Cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979. Sự xuất hiện của nhà nước Hồi giáo Iran dưới sự lãnh đạo của Đại giáo chủ Ruhollah Khomeini vốn có tư tưởng chống Mỹ cùng tâm lý phản kháng của người dân Iran sau nhiều năm chịu sự can thiệp từ bên ngoài đã khiến quan hệ Mỹ-Iran xấu đi nhanh chóng.

leftcenterrightdel

Khói bốc cao sau cuộc không kích của Mỹ và Israel vào Iran.  Ảnh The Guardian

Theo thời gian, sự đụng độ giữa tham vọng của Iran mở rộng ảnh hưởng trong khu vực và mục tiêu của Mỹ kiểm soát nguồn dầu mỏ chiến lược Trung Đông cũng như hậu thuẫn người đồng minh Israel, rồi động thái của Iran xích lại với Nga và Trung Quốc nhằm cân bằng áp lực từ phương Tây càng làm cho quan hệ Washington-Tehran thêm căng thẳng. Đến khi Iran đẩy mạnh chương trình làm giàu hạt nhân và tích cực hậu thuẫn các lực lượng ủy nhiệm của mình như Hezbollah ở Lebanon, Hamas ở dải Gaza và Houthi ở Yemen trong cuộc đối đầu với Israel, thì quan hệ Mỹ-Iran đã nóng đến mức bùng nổ. Trong bầu không khí thù địch đã tích tụ đến mức đỉnh điểm, mở cuộc tấn công quân sự đã được Washington lựa chọn như giải pháp giải tỏa cuộc tranh cãi không hồi kết đó. 

Thế nhưng, khó có thể chia sẻ cách diễn giải của Washington rằng quyết định sử dụng vũ lực là cần thiết và không thể trì hoãn bởi có “mối đe dọa sắp xảy ra”, rằng lựa chọn hành động phủ đầu là để “ngăn chặn tổn thất lớn hơn” và bảo vệ binh sĩ của mình. Bằng chứng mà Mỹ đưa ra để khẳng định “mối đe dọa sắp xảy ra” là Iran sắp phát triển được tên lửa tầm xa “có thể sớm vươn tới lãnh thổ Mỹ” đang bị dư luận cho là cố tình phóng đại. Ngay các cơ quan tình báo Mỹ cũng đều kết luận Iran còn cách nhiều năm mới đạt được khả năng sở hữu tên lửa có thể tấn công các mục tiêu bên trong lãnh thổ Mỹ.

Cũng không có cơ sở nào cho thấy Iran tái khởi động các cơ sở hạt nhân từng bị Mỹ tấn công hồi tháng 6-2025. Các chuyên gia cho rằng Tehran gặp khó khăn đáng kể để tiếp cận các kho urani đã làm giàu, vốn đã bị vùi sâu dưới đống đổ nát sau các cuộc không kích của Mỹ. Tổng giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế Rafael Grossi cũng thừa nhận cơ quan này không tìm thấy bằng chứng Iran đã nối lại hoạt động làm giàu urani kể từ tháng 6-2025. Những lập luận và cáo buộc của Washington nhằm vào Tehran thực chất chỉ là cách biện minh nhằm tạo tính chính danh trước công chúng trong nước và các đồng minh.

Dưới góc độ luật chiến tranh, không có bất cứ cơ sở pháp lý nào có thể hậu thuẫn cho hành động quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran. Hàng loạt các lý do liên tục thay đổi mà Mỹ đưa ra, từ chấm dứt chương trình tên lửa đạn đạo đến ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân, rồi bảo vệ công dân Iran khỏi những hành động trấn áp của chính quyền... đều không có bằng chứng đáng tin cậy. Các báo cáo tình báo Mỹ cũng không cho thấy dấu hiệu cụ thể nào về một kế hoạch tấn công sắp xảy ra từ phía Iran nhằm vào Mỹ. Luật pháp quốc tế không biện minh cho bất kỳ cuộc tấn công một quốc gia khác chỉ vì tin rằng mình sẽ bị tấn công, không thể dựa trên câu chuyện “chính nghĩa” mà một bên dựng lên để biện minh cho hành động phi lý của mình.

Thêm vào đó, việc Mỹ và Israel bất ngờ mở cuộc tấn công ồ ạt khi các cuộc đàm phán ngoại giao giữa Mỹ và Iran vẫn còn đang diễn ra ở Thụy Sĩ, sẵn sàng sát hại ông Ali Khamenei, lãnh tụ tối cao Iran, biểu tượng quyền lực của một nước có chủ quyền, còn khiến dư luận đặt câu hỏi về toan tính thực chất đằng sau động thái hiếm có tiền lệ này, rằng liệu Washington thực sự kiến tạo hòa bình, hay đang theo đuổi tham vọng tái định hình trật tự Trung Đông theo lợi ích riêng dưới danh nghĩa ổn định và dân chủ. 

Khói lửa chiến tranh còn đang bao phủ nhưng những toan tính của cuộc chiến thì đã dần lộ rõ. Khác với chiến dịch “Búa đêm” vào tháng 6-2025 chủ yếu nhằm vào các cơ sở hạt nhân, cuộc tấn công lần này của Mỹ và Israel hướng việc phá hủy cấu trúc quyền lực và biểu tượng của nhà nước Iran. Không phải ngẫu nhiên mà ông Ali Khamenei cùng nhiều quan chức cao cấp nhất của Iran trở thành mục tiêu trước tiên của chiến dịch quân sự. Đòn đánh mà Washington quảng bá là “chặt đầu” này không chỉ nhằm phá hủy năng lực, mà là quyền lực của một chế độ. Giờ đây, Mỹ đã công khai thúc giục người dân Iran nổi dậy lật đổ chính quyền, chuyển từ mục tiêu kiềm chế chương trình hạt nhân sang thay đổi chính quyền ở Tehran.

Một lời biện minh đơn giản ban đầu đã dẫn đến cuộc chiến tranh phức tạp ở Trung Đông. Quy luật của chiến tranh là luôn có xu hướng leo thang. Cả hai bên đều không sẵn sàng hoặc không muốn giảm leo thang, kiên quyết giữ lập trường tối đa bất chấp những hậu quả. Giờ đây, các cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã không dừng bên trong lãnh thổ Iran, mà mở ra cả vùng biển quốc tế khi tàu chiến IRIS Dena của Iran bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngoài khơi Sri Lanka, nơi cách bờ biển Iran hơn 3200km. Máy bay không người lái và tên lửa của Iran thì ngắm vào Đại sứ quán Mỹ tại thủ đô Riyadh của Saudi Arabia, các căn cứ quân sự Mỹ ở Bahrain và Kuwait, cùng các cơ sở tại Tel Aviv và nhiều khu vực khác của Israel. 

Chiến tranh cũng không còn giới hạn trong trục Mỹ và Israel với Iran, mà đã bùng phát ở Lebanon, khi lực lượng Hezbollah phóng tên lửa và máy bay không người lái vào các mục tiêu quân sự của Israel, trong đó có căn cứ không quân chiến lược Ramat David. Động thái này đánh dấu sự can dự trực tiếp của Hezbollah vào cuộc xung đột để hậu thuẫn Iran. Một lực lượng ủy nhiệm khác của Iran là Houthi ở Yemen cũng tuyên bố tham chiến và “sẵn sàng tấn công Mỹ và Israel khi tình hình đòi hỏi”. Các hành động đáp trả này đã mở rộng phạm vi xung đột, biến cuộc đối đầu song phương thành một vòng xoáy an ninh bao trùm không chỉ khu vực Trung Đông.

Dù Iran chịu nhiều thiệt hại, lãnh đạo tối cao và nhiều chỉ huy cấp cao thiệt mạng khiến việc trả đũa diễn ra trong hỗn loạn, nhưng rất ít lý do để khẳng định chỉ riêng chiến dịch không kích, dù là tinh vi và hiệu quả thế nào, là có thể thay đổi được chế độ ở Iran. Sau những đòn không kích dồn dập nhưng chưa thể đánh sập hoàn toàn tiềm lực của Tehran, Washington đang phải tính tới khả năng triển khai một số lực lượng bộ binh tới Iran. Nếu điều đó xảy ra, nó sẽ là bước leo thang nguy hiểm với những hậu quả khó lường. Quá khứ cho thấy những cuộc can thiệp từ bên ngoài dẫn tới thay đổi chế độ ở Iraq, Libya và Afghanistan đã không tạo ra sự ổn định, chứ đừng nói đến dân chủ như mong đợi, mà chỉ dẫn đến tình trạng hỗn loạn kéo dài, bạo lực nội bộ, dòng người tị nạn và sự lan rộng của chủ nghĩa khủng bố xuyên biên giới.

Tham vọng tái định hình Trung Đông trong quá khứ cũng nhắc nhở Washington về tổn thất sinh mạng và tài chính khổng lồ mà Mỹ phải gánh chịu. Tròn 20 năm kể từ sau cuộc can dự lật đổ chính quyền Iraq, dự án “Chi phí chiến tranh” tại Đại học Brown ước tính cuộc xung đột ở Iraq cùng các quốc gia lân cận mà Mỹ phải can thiệp để chống lại các tay súng Nhà nước Hồi giáo trỗi dậy từ nội chiến Iraq đã khiến Washington phải tốn phí gần 2.900 tỷ USD cùng hàng nghìn lính Mỹ thiệt mạng.       

Trước mắt, cuộc tấn công của Mỹ và Israel đang gây ra chuỗi phản ứng dây chuyền đối với kinh tế toàn cầu. Nhiều quốc gia Trung Đông đã phải đóng cửa hoặc hạn chế không phận vì lý do an ninh, buộc các hãng hàng không quốc tế phải điều chỉnh, kéo dài hoặc hủy chuyến bay. Trên thị trường năng lượng toàn cầu, giá dầu và khí đốt liên tục nhảy múa do lo ngại nguy cơ gián đoạn nguồn cung, đặc biệt khi eo biển Hormuz-tuyến vận chuyển dầu mỏ chiến lược của thế giới được cảnh báo có thể trở thành điểm nóng nếu xung đột tiếp tục leo thang. 

Khủng hoảng ở Trung Đông cho thấy một thực tế: Trong nền kinh tế toàn cầu hóa sâu rộng, một điểm nóng địa chính trị có thể nhanh chóng biến thành rủi ro hệ thống toàn cầu. Tác động lớn nhất của cuộc xung đột Trung Đông không nằm ở chiến trường, mà ở cách nó tác động đến trật tự thế giới. Nếu xung đột kéo dài, thế giới sẽ dịch chuyển sâu hơn vào một trạng thái “bất ổn về cấu trúc”, trong đó chi phí cao hơn, chuỗi cung ứng bị phân mảnh hơn và địa chính trị chi phối mạnh hơn kinh tế. Trung Đông-nơi trực tiếp đối mặt với xung đột chắc chắn là bên chịu thiệt hại lớn nhất. Bất ổn dai dẳng sẽ làm gián đoạn phát triển, suy yếu niềm tin đầu tư và gia tăng chia rẽ nội tại, gây ra những hệ lụy có thể kéo dài qua nhiều thế hệ với khu vực này.

Trong bối cảnh đó, con đường đàm phán, dù khó khăn và đầy hoài nghi, vẫn là sự lựa chọn khôn ngoan nhất so với một cuộc xung đột không biết điểm dừng.

TƯỜNG LINH