Đồng bằng sông Cửu Long thực sự là một vùng địa hình lý tưởng cho nông nghiệp. Trong một cuốn sách tôi từng đọc, có đoạn, xửa xưa, cây lúa ở vùng này được người dân gọi là lúa trời. Là bởi vì năm nay hạt lúa rụng xuống ruộng, ngủ yên ở đấy, vụ sau nước tràn về mênh mông, đất lại hóa bùn, lúa tự nảy mầm, lên cây, trổ đòng. Lúa chín vàng người ta lại lũ lượt ra gặt về. Thử hỏi trên đất nước này, còn nơi nào thiên nhiên ưu ái con người như thế không?

Tôi vốn dự định chỉ dừng chân ở An Giang một vài ngày, nhưng rốt cuộc đã phải ở lại đến một tuần lễ. Tất cả chuyến đi khác, đến các địa danh khác ở “lục tỉnh Nam Kỳ” đều hủy bỏ. Sở dĩ như vậy là bởi, An Giang là nơi hội tụ quá nhiều trang sử kỳ diệu. Nếu tính từ thời hình thành, phát triển của nền văn hóa Óc Eo, vương quốc Phù Nam, thủ phủ Ba Thê, tức là từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7, thì một đời người không thể giở hết tất cả những trang sử của vùng đất này.

leftcenterrightdel
Kinh Vĩnh Tế, đoạn chảy qua tỉnh An Giang. 

Kinh Vĩnh Tế-có tài liệu cho rằng được Vua Minh Mạng đặt theo tên của vợ vị đổng lý trực tiếp điều hành thi công Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), bà Châu Thị Tế. Lý do nhà vua làm vậy là để ghi nhận công lao của người vợ hiền đã dốc sức phò tá cho chồng hoàn thành công việc lớn lao. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, tên của dòng kinh được đặt ngay từ khi bắt đầu thi công, tức là từ thời Vua Gia Long còn đang tại vị. Nhưng cho dù ý kiến nào là đúng thì lịch sử vẫn ghi nhận công lao vĩ đại của đổng lý Nguyễn Văn Thoại. Trong suốt 5 năm (1819-1824), và trải qua 3 giai đoạn, vắt qua hai triều đại, nhiều chục nghìn người cả người Việt và người Chân Lạp làm lụng đến kiệt sức mới tạo ra được một dòng kinh dài hơn 80km theo cách đo ngày nay. Rất nhiều người trong số đó đã bỏ mạng vì bị thú dữ tấn công, bệnh tật hiểm nghèo. Hai thế kỷ đã trôi qua, dòng kinh vẫn tồn tại và mang lại một nguồn lợi lớn không kể xiết cho biết bao nhiêu con người sinh sống ở hai bên bờ kinh, cũng như là một tuyến đường thủy mang lại lợi nhuận vô ngần cho cả một vùng đất lớn.

Nhưng, kinh đào không phải đến tận cách đây hai thế kỷ mới xuất hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long, mà nó đã từng phát triển đến mức đỉnh cao ở thời kỳ Óc Eo. Vùng Óc Eo-Ba Thê từng là một thương cảng lớn. Thương cảng Óc Eo được chia làm hai khu vực: Khu phía đông kinh thành Ba Thê là các bến nước nằm dọc bờ kinh, tương tự những chợ nổi ngày nay, là nơi ghe xuồng lui tới trao đổi hàng hóa với cư dân tại chỗ, cũng là nơi cung cấp lương thực cho cư dân nội thành. Khu phía nam là nơi neo đậu của các tàu viễn dương, thu gom sản vật trong vùng, cũng là nơi giao thương giữa các con tàu đến từ phương Đông như Trung Hoa, Nhật Bản với các con tàu đến từ phương Tây như Ấn Độ, Ba Tư. Trầm hương, gia vị, đường thốt nốt, ngọc trai, đá quý, sừng tê giác… là những mặt hàng đắt giá nơi thương cảng Óc Eo. Nhưng, để thương cảng Óc Eo phát triển đến mức ấy, có lẽ phải kể đến hệ thống sông đào, kênh đào chằng chịt, hàng trăm ki-lô-mét, nối liền các đô thị, các kinh thành, các trung tâm văn hóa, thương mại… tạo nên mạng lưới đường thủy vô cùng phong phú, một hạ tầng được đánh giá là quan trọng bậc nhất đối với việc phát triển văn hóa Óc Eo.

leftcenterrightdel
Thạc sĩ Nguyễn Thuận Thảo (bên phải) tại Khu di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê (An Giang).
leftcenterrightdel
Một góc Di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê (An Giang). Ảnh: Bích Thúy

Nhờ có thương cảng Óc Eo, Phù Nam đã từng là một vương quốc lớn mạnh, giàu có, phồn thịnh. Ba Thê từng là một đô thị sầm uất. Thời kỳ Phù Nam giàu mạnh cũng là thời kỳ đạo Phật phát triển mạnh mẽ khiến cho Phù Nam trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á. Trong quá trình khảo cổ, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều dấu vết của các đền thờ, đặc biệt là các khu lăng mộ. Và những gì tìm được cho thấy, trong các cộng đồng cư dân thời đại Óc Eo, chỗ ở của người chết còn đồ sộ, vững bền hơn cả chỗ ở của người sống. Một khu mộ táng có thể rộng hàng nghìn mét vuông. Trung tâm mỗi ngôi mộ dựng một khối trụ vuông bằng gạch đá hoặc gỗ, bên trong lấp đầy cát trắng, xung quanh gia cố bằng đá tảng. Một ngôi mộ đồ sộ như thế, rốt cuộc chỉ để cất một nắm… tro tàn, phần còn lại của người qua đời sau khi hỏa táng. Điều đó thể hiện quan niệm thế giới bên kia là một cõi vĩnh hằng, vì thế mà nó thực sự được trân trọng.

Khoa học khảo cổ từng bước vén những bức màn bí ẩn của thời gian, lật lên dưới những lớp đất sâu, tái hiện cả một vương quốc. Hôm nay đứng ở trên cầu nhìn xuống dòng kinh mênh mông, với vô số căn nhà sàn đặc trưng của miền Tây Nam Bộ, tôi có cảm giác mình hình dung được những con kinh nhân tạo từ hàng nghìn năm trước đang chở theo nó những con thuyền trĩu nặng hương liệu, tiền bạc, đồ trang sức, đồ gốm, đồ đồng… từ những tiệm chế tác nằm sâu trong đất liền đi ra thế giới.

Một trong những điều khiến rất nhiều nhà khoa học ngạc nhiên, đó là ở thời kỳ Óc Eo, thủ công mỹ nghệ cực kỳ phát triển-một thời kỳ hoàng kim của đồ trang sức. Thật khó hình dung, vào những thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên, bàn tay người Óc Eo đã tài hoa đến thế. Những vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt bằng đá quý, thủy tinh, kim loại… vô cùng khéo léo, tinh xảo. Người ta cho rằng, công nghệ chế tác thủy tinh vốn dĩ khá phức tạp, với trình độ tay nghề rất cao, có lẽ được cư dân Óc Eo học từ các nghệ nhân Ấn Độ. Hoặc là người Ấn Độ đến truyền nghề, hoặc cư dân Óc Eo theo các tàu buôn qua Ấn Độ học được nghề ấy mang về.

Thạc sĩ Nguyễn Thuận Thảo, Phó giám đốc Ban quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang là người dẫn chúng tôi đi lang thang khắp các di chỉ khảo cổ, các di tích đang được lưu giữ. Ông là người cả đời gắn bó với Óc Eo. Tôi thậm chí nghĩ rằng, ông được sinh ra để dành cho Óc Eo toàn bộ thời gian, tâm trí, tinh thần, tình cảm. Một người say đắm đến tận cùng vùng văn hóa này. Phù Nam tồn tại đến khoảng thế kỷ thứ 7 thì suy yếu và bị Chân Lạp, một thuộc quốc của chính Phù Nam xâm chiếm vào năm 649. Nhưng Chân Lạp không giữ được vương quốc này bao lâu thì cũng phải từ bỏ. Sau Chân Lạp, toàn bộ vùng đất mênh mông, trù phú này bị bỏ quên đến… 1.000 năm. Theo ông Nguyễn Thuận Thảo thì có mấy lý do khiến cho Chân Lạp suy tàn: Thứ nhất, Óc Eo không còn là một thương cảng lớn nữa; thứ hai, nạn hải xâm, nước biển dâng rất cao, cư dân không sống nổi phải bỏ đi. Bên cạnh đó, Thủy Chân Lạp, Lục Chân Lạp mâu thuẫn, lục đục, chiến tranh liên miên. Cả một vương quốc vì thế mà từ từ biến mất.

Dù rằng thương cảng Óc Eo không còn, hàng nghìn hàng nghìn năm, phù sa dần vùi lấp mất những đền đài, thành quách, nhưng dường như khí chất giàu có, chơi sang của người Phù Nam xưa vẫn còn lưu lại đến tận ngày nay. 10 thế kỷ sau đó, vào cuối thế kỷ thứ 17, những lưu dân người Việt, trong đó đa số là những nông dân và thợ thủ công nghèo ở các tỉnh phía Bắc vì không chịu nổi những tai họa do cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn Trịnh-Nguyễn gây ra đã đặt chân đến và đánh thức vùng đất này. Bên cạnh đó còn có những người bị tù tôi phải đi lưu đày, những người chống đối lại triều đình, thậm chí cả những tay “giang hồ tứ chiếng” hay binh lính miền biên cảnh... Tất cả đều hy vọng tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Người miền Tây hôm nay hiền hòa, phóng khoáng, cởi mở, tốt bụng. Những cánh cửa luôn mở rộng để bạn có thể ghé vào bất kỳ lúc nào lỡ độ đường; những nụ cười tươi sáng, ấm áp luôn nở trên môi. Gió miền Tây mạnh mẽ mà hồn hậu. Thiên nhiên vì thế mà cũng ban tặng cho vùng sông nước này nhiều sản vật, khí hậu ôn hòa, dễ chịu, cây cối tốt tươi, bốn mùa hoa trái bời bời… Tất cả những điều đó, phải chăng là do con người xưa cũng như nay, luôn sống hài hòa với thiên nhiên, lựa theo từng con nước mà đi qua năm tháng?

Bút ký của ĐỖ BÍCH THÚY