Với Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, kẻ thù trực tiếp mà ông và đồng đội đang chiến đấu không phải là bom đạn, khói súng mà là những đống đổ nát sau động đất, mưa bão, lũ lụt, sập đổ công trình... Ở nơi “chiến trường không tiếng súng” đầy hiểm nguy, ông và đồng đội ngày đêm chạy đua với thời gian để giành giật từng sự sống, mang lại bình yên và hạnh phúc cho nhân dân.

Những cuộc gọi khẩn

18 giờ, ông hẹn gặp tại phòng làm việc. Tôi khá bất ngờ, tưởng giờ đó là lúc ông rảnh nhất, nhưng không, ông vẫn đang rất bận rộn. Tiếng gõ cửa, người ra vào liên tục, trình ký, báo cáo vụ việc, các công điện chỉ đạo ứng phó lũ lụt tại miền Trung đang rất phức tạp... Chiếc điện thoại trên bàn đổ chuông liên hồi khiến câu chuyện của chúng tôi luôn phải đứt quãng bởi những mệnh lệnh ngắn, dứt khoát: “Kiểm tra phương tiện dự phòng... Giữ liên lạc thường xuyên”. Rồi ông quay sang, giọng điềm đạm: “Làm cứu hộ, cứu nạn mà không bình tĩnh thì sẽ rối như canh hẹ”.

leftcenterrightdel

Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ đưa ngư dân được cấp cứu từ Trường Sa về đất liền điều trị, năm 2024. Ảnh do nhân vật cung cấp

Ở tuổi gần 60, ông vẫn giữ tác phong của người lính đã quen đối mặt với bão dông. Chiếc điện thoại để chuông 24/24 giờ bởi những cuộc gọi có thể đến vào bất cứ lúc nào. “Kẻ thù” của ông và đồng đội không phải khói súng, mà là những đống đổ nát sau động đất, lũ quét, sạt lở bùn lầy, cháy nổ... một “chiến trường không tiếng súng” nhưng tính bằng phút, bằng giây, nơi cái sai không có cơ hội sửa.

Ông sinh ra ở Hải Xuân, Ninh Bình, vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi nhen lên ước mơ đầu đội mũ gắn sao, vai đeo quân hàm từ thuở cắp sách. Tháng 9-1983, anh thanh niên quê lúa bước vào Trường Sĩ quan Lục quân 1. Ra trường (năm 1986), Phạm Văn Tỵ về Trung đoàn 771, Sư đoàn 242 (Đặc khu Quảng Ninh) canh giữ vùng biển đảo Đông Bắc; rồi lần lượt trải qua các cương vị từ Phó đại đội trưởng, Đại đội trưởng, Trợ lý Tham mưu ở Trung đoàn 8 (Sư đoàn 395) đến Trưởng Tiểu ban tác huấn, Phó tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng thuộc Trung đoàn 584 (Sư đoàn 350, Quân khu 3).

Từ năm 2000 đến 2005, ông được điều ra công tác tại quần đảo Trường Sa. Trải qua các chức vụ Đảo trưởng đảo Sinh Tồn, Đảo trưởng đảo Song Tử Tây, trước khi làm Phó lữ đoàn trưởng Tham mưu trưởng Đoàn Trường Sa. Những năm tháng “đảo là nhà, biển cả là quê hương” đã rèn cho ông sự kiên định và kỹ năng chỉ huy trong điều kiện khắc nghiệt: “Trên đảo, chỉ cần lơ là một giây là phải trả giá, không chỉ bằng sinh mạng mà còn bằng chủ quyền của đất nước”, ông nhớ lại. Nhịp sống nơi đảo xa được ông kể bằng những mảnh ghép nhỏ: Tiếng còi đổi gác lúc 0 giờ, những đợt gió muối quật rát mặt, con sóng mùa gió chướng đập vào cầu tàu tung lên những vệt bọt trắng đục. Ở đó, vị trí chỉ huy không chỉ là mệnh lệnh mà là thói quen tự bước ra chốt tiền tiêu khi bầu trời đổ mưa, đi một vòng kiểm tra các điểm canh gác khi gió quẩn trước giờ bão. Là cái vỗ vai chậm rãi động viên chiến sĩ trực đêm giữa cuồng phong.

Trong những ngày biển động, đảo không chỉ là pháo đài tiền tiêu nơi tuyến đầu Tổ quốc mà còn là nơi trú ẩn cho các tàu ngư dân. Ông và bộ đội quen với việc kéo dây, kê mạn, băng bó vết thương, chia nhau can nước ngọt, gói mì, chén trà nóng cho ngư dân vừa qua cơn kiệt sức. Ông bảo: “Cứu người là mệnh lệnh từ trái tim của người lính biển”.

Phía sau các mệnh lệnh

Cuối năm 2006, ông nhận quyết định về Cục Cứu hộ-Cứu nạn. Mang theo “nắng gió biển khơi” vào trung tâm đầu não, ông bắt tay ngay vào một mặt trận mới: Tham mưu chiến lược, tổ chức lực lượng, hiệp đồng liên ngành, trực tiếp chỉ huy ứng phó thảm họa, sự cố. “Ở đây, người chỉ huy phải dệt được nhiều sợi chỉ”, ông nói ví von. Từ dự báo khí tượng thủy văn đến thông tin, giao thông, y tế, Quân đội, công an... mọi thứ đều phải cùng nhịp.

Gần hai mươi năm trên trận tuyến cứu nạn, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ cùng Ban chỉ huy Cục đã chỉ đạo ứng phó 19.486 sự cố, thiên tai; cứu 43.365 người, 2.876 phương tiện; riêng 345 vụ có yếu tố nước ngoài đã cứu 1.607 người, 95 phương tiện; kêu gọi, thông báo cho 23.979.578 người và 6.651.977 phương tiện nắm được thông tin bão, áp thấp nhiệt đới.

Song song nhiệm vụ “xuống hiện trường”, ông còn chủ trì kế hoạch bảo đảm an toàn cho Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng; tham mưu, hiệp đồng bảo vệ nhiều sự kiện trọng yếu. Ông góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý phòng thủ dân sự; xây dựng Đề án phát triển, nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.

Để “điều lệnh hóa” kinh nghiệm vào năng lực thực thi, ông đã cùng Ban chỉ huy Cục chỉ đạo tổ chức 52 khóa tập huấn cho 7.320 lượt cán bộ, chiến sĩ; 218 khóa huấn luyện chuyên sâu cho 12.415 lượt học viên; cùng 16 khóa sử dụng chó nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn. Những buổi huấn luyện ấy, theo ông, không chỉ trao kỹ năng mà còn truyền bản lĩnh bình tĩnh giữa những hỗn độn.

Đi cứu hộ như đi tìm người thân

Nửa đời quân ngũ gắn với công tác cứu hộ, cứu nạn, hành trang mỗi chuyến đi của ông rất giản dị, đó là lọ dầu gió, vài viên thuốc dạ dày, huyết áp, bộ quân phục dự phòng, đôi dép rọ. Đồng đội vẫn nhắc về ông là một vị tướng gần gũi, nhiệt huyết với công việc, nói ít làm nhiều, thương yêu chiến sĩ.

Kể về ký ức vụ sập hầm thủy điện Đạ Dâng-Đạ Chomo (Lâm Đồng, tháng 12-2014) khiến người đàn ông tóc muối tiêu chùng giọng. 12 công nhân kẹt ở độ sâu hơn 70m, bùn nước dâng từng giờ, nguy cơ sập tiếp rình rập. Với cương vị Phó chánh văn phòng Thường trực Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, ông có mặt từ những giờ đầu, cùng các lực lượng soi từng lát cắt địa chất để tìm phương án tối ưu. Hiện trường hỗn độn. Đất đá còn yếu, hình thái địa chất phức tạp, các khả năng cứu hộ vừa mở ra đã phải tính đến rủi ro kèm theo. “Trong đầu mình phải vẽ được đường đi của dòng nước, thớ đất, nơi nào chịu lực, nơi nào dễ sụt. Mọi phương án đều cần điểm tựa khoa học”, ông kể.

Sau nhiều giờ khảo sát, ông bàn bạc thống nhất cùng các lực lượng ứng cứu đề xuất mở hai đường hầm song song, đào nghiêng theo hướng dòng nước để giảm áp lực sạt, “đào đến đâu, gia cố đến đó”, huy động công binh thi công liên tục. Đó là quyết định táo bạo, chưa có tiền lệ, nhưng đứng trên nền tri thức và kinh nghiệm “đào hầm trong cát” của Bộ đội Công binh thời chiến. Để đưa ra được phương án cuối cùng nhanh chóng, kịp thời, ông nói với mọi người: “Nếu không mạo hiểm có tính toán thì 12 công nhân sẽ chết ngạt trước bình minh”.

82 giờ nghẹt thở. Khi mũi khoan cuối cùng mở vào khoảng tối ẩm đặc, 12 con người lần lượt được kéo ra, sự sống vẫn được bảo đảm an toàn. Tiếng vỡ òa của gia đình, đồng đội. Họ ôm chặt ông khóc như trẻ nhỏ. Giữa niềm vui ấy, ông lặng đi như vừa tìm thấy người thân của mình. “Đó là một trận đánh, mỗi quyết định phải chính xác từng giây”, ông gọi thế.

Chiều đã muộn, nhìn vị tướng đang nhiệt huyết kể chuyện, tôi hiểu vì sao đồng đội luôn tin tưởng vào ông. Từ một sĩ quan trẻ dạn dày gió muối Trường Sa đến người chỉ huy cứu hộ-cứu nạn cấp chiến lược, hành trình ấy không chỉ là quá trình tích lũy bản lĩnh, tri thức và tình người.

Ông nói giọng nhỏ lại: “Cứu người là hành trình tiếp nối. Hôm nay, bão ở miền Trung, mai có thể cháy nổ ở phía Nam, ngày kia lũ quét miền núi phía Bắc... Chúng tôi phải chạy đua với thời gian nhưng luôn phải bình tĩnh”. Rồi ông lại quay sang màn hình, nối thêm một cuộc gọi. Ngoài kia, trời Hà Nội lại đổ mưa. (còn nữa)

HẢI LÝ - CHUNG THỦY