Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, vì sao một nội dung mang tính lề lối làm việc như thời lượng và cách thức tổ chức hội nghị (thường gọi là các cuộc họp) lại phải được Ban Bí thư ban hành kết luận như vậy?

PGS, TS Lê Văn Chiến: Trước hết, cần lưu ý Kết luận 226 đề cập đến nhiều nội dung về chấn chỉnh, khắc phục một số hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, lề lối làm việc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, mà chủ trương chấn chỉnh về tổ chức các hội nghị là một trong những nội dung trong kết luận. Kết luận còn đề cập đến các vấn đề: Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản; đổi mới phương thức làm việc, phối hợp công tác, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.

Thực tế cho thấy, lâu nay, họp hành nhiều và kéo dài trở thành thói quen khá phổ biến và khó điều chỉnh đến mức cần có một “mệnh lệnh chính trị” từ cấp trên để chấn chỉnh. Họp nhiều, họp kéo dài mà không đưa ra được quyết định đúng, tốt cũng là một biểu hiện của lãng phí, ở đây là lãng phí thời gian làm việc. Chấn chỉnh việc họp hành cũng là cách “chấn chỉnh” không chỉ ở những vấn đề lớn mà cả trong những thói quen nhỏ nhưng là rào cản để phòng, chống lãng phí, tiêu cực mà Đảng ta đang thực hiện.

Kết luận của Ban Bí thư cũng là cách gửi đi thông điệp: Đổi mới phương thức lãnh đạo phải bắt đầu từ những việc rất cụ thể, rất đời thường, nơi quyền lực được sử dụng như thế nào, thời gian được tiêu dùng ra sao và sau mỗi cuộc họp thì việc gì thực sự được làm. Nói gọn lại, việc “chấn chỉnh” lề lối làm việc cho thấy hệ thống chính trị đang tự nhận diện những hạn chế dù nhỏ nhất để thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Đây không chỉ là chuyện họp ít hay họp nhiều mà là vấn đề lớn hơn: Cách thức vận hành một hệ thống.

PV: Như đồng chí nói, việc họp nhiều, họp dài... đã trở thành “thói quen hành chính” lâu nay. Vậy lực cản mà nó sinh ra có hình thù, biểu hiện thế nào?

PGS, TS Lê Văn Chiến: Mỗi cán bộ chúng ta ai cũng đi họp, thậm chí đi họp nhiều và thấu hiểu họp là thế nào. Khi họp nhiều, họp dài trở thành thói quen hành chính thì sẽ có ít thời gian tập trung làm việc, hiệu quả công việc sẽ giảm. Nếu hiện tượng ấy lặp lại có hệ thống, tồn tại ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, đơn vị thì nó trở thành một lực cản, làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý và thực thi công vụ.

Thêm nữa, về nguyên lý, họp là công cụ để ra quyết định. Nhưng trong thực tế không tránh khỏi có lúc, có nơi họp để cùng chịu trách nhiệm tập thể vì sợ trách nhiệm cá nhân. Những nơi họp nhiều, họp dài cũng thường mắc bệnh “nói nhiều làm ít”, báo cáo nhiều hơn hành động, khiến bộ máy vận hành thiếu hiệu quả. Đó chính là lúc thói quen hành chính biến thành lực cản phát triển.

Việc Ban Bí thư ra văn bản can thiệp bằng thể chế cho thấy các cơ chế tự điều chỉnh ở dưới đã không đủ hiệu lực. Không thể trông chờ thay đổi bằng khuyến nghị hay lời nhắc chung chung mà phải dùng đến quy định, kết luận, tiêu chí bắt buộc. Tức là đưa vấn đề “họp” vào kỷ luật, kỷ cương.

leftcenterrightdel

 PGS, TS Lê Văn Chiến. Ảnh: HÙNG HÀ 

PV: Theo đồng chí, nếu không có quy định cụ thể về số lượng, thời lượng và thành phần hội nghị thì nguy cơ lớn nhất đối với bộ máy là gì?

PGS, TS Lê Văn Chiến: Nếu không định lượng được việc họp thì sẽ gây ra những nguy cơ: Lãng phí nguồn lực, quyết định không được thực thi hiệu quả, suy giảm trách nhiệm cá nhân. Nhưng nguy cơ lớn nhất là lãng phí thời gian. Họp kéo dài quá mức cần thiết sẽ gây lãng phí thời gian của tất cả những người dự họp. Giả sử một cuộc họp có 100 người dự, nếu kéo dài không cần thiết 30 phút thì tổng thời gian lãng phí là 50 giờ, bằng hơn một tuần làm việc của một cá nhân. Mà lãng phí thời gian là lãng phí tiền bạc.

Khi không có quy định rõ ràng về số lượng, thời lượng, thành phần thì họp rất dễ trở thành “không gian của trách nhiệm tập thể”, nơi ai cũng dự họp nhưng không ai phải chịu trách nhiệm cuối cùng. Quyết định được đưa ra bằng số đông, bằng quy trình, bằng biên bản, còn trách nhiệm thì tan ra trong tập thể. Lúc ấy, đúng-sai dễ được gán cho danh nghĩa “đã bàn rồi”. Vì vậy, Kết luận 226 không chỉ để tiết kiệm thời gian hay giảm số cuộc họp, mà mục tiêu sâu xa hơn là gắn quyền lực với trách nhiệm, buộc mỗi quyết định phải có “chủ thể chịu trách nhiệm rõ ràng” thay vì ẩn mình sau tập thể và quy trình. Khi quy trách nhiệm rõ ràng thì lãng phí tự giảm và quyết định tự khơi thông.

PV: Ban Bí thư yêu cầu họp ngắn gọn, rõ việc, rõ trách nhiệm có phải là một bước chuyển từ quản lý bằng hội họp sang quản lý bằng kết quả và sản phẩm cụ thể không, thưa đồng chí?

PGS, TS Lê Văn Chiến: Đúng như thế. Đây cũng là bước chuyển tư duy quản trị rất căn bản. Yêu cầu họp ngắn gọn, rõ việc, rõ trách nhiệm thực chất là một thông điệp rõ ràng: Phải lấy kết quả đầu ra và sản phẩm cụ thể làm đơn vị đo giá trị của lãnh đạo, quản lý trong khu vực công. Đây chính là sự dịch chuyển từ “quản lý bằng quá trình” sang “quản lý bằng đầu ra”.

Trong mô hình cũ, hội họp giữ vai trò trung tâm. Nhiều cuộc họp được coi là biểu hiện của sự sâu sát, là bằng chứng của trách nhiệm. Từ đó sinh ra quan niệm thực hiện đầy đủ quy trình là đã “làm hết phần mình”. Khi đó, quản lý thiên về kiểm soát sự hiện diện hơn là kiểm soát hiệu quả.

Bước chuyển mà Trung ương đang thúc đẩy đi theo logic ngược lại. Họp chỉ là phương tiện tối giản để làm rõ các câu hỏi: Việc gì phải làm? Ai chịu trách nhiệm? Khi nào phải xong? Sau cuộc họp thì sản phẩm cụ thể có xuất hiện hay không? Nếu không có sản phẩm, cuộc họp coi như thất bại dù diễn ra rất “đúng quy trình”.

Đây là sự thay đổi về tư duy, làm thay đổi một thói quen lâu nay của quản lý ở khu vực công: Dùng tập thể để phân tán trách nhiệm, dùng quy trình để giảm áp lực cá nhân. Khi chuyển sang quản lý bằng kết quả, mỗi cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, buộc phải chấp nhận bị đo đếm bằng đầu ra, không còn có thể ẩn nấp sau hội nghị hay biên bản. Nói cách khác, đây là sự chuyển dịch từ câu hỏi “đã bàn kỹ chưa?” sang câu hỏi “đã làm ra cái gì?”. Từ “đúng quy trình” sang “đúng việc và có kết quả”. Với quản trị công, đó không phải là thay đổi nhỏ. Đó là đổi cách sử dụng quyền lực, đổi cách đánh giá năng lực và đổi cả văn hóa chịu trách nhiệm trong bộ máy.

Nếu làm đến nơi đến chốn, yêu cầu này sẽ không chỉ rút ngắn thời gian họp mà còn tăng không gian hành động của hệ thống, giúp năng lực thật và trách nhiệm thật mất chỗ để né tránh.

PV: Từ góc độ chuyên gia, nếu các quy định về họp ngắn gọn, họp thực chất không được thực hiện nghiêm sẽ tác động thế nào đến niềm tin với kỷ luật, kỷ cương của bộ máy, thưa đồng chí?

PGS, TS Lê Văn Chiến: Nếu các quy định trên không được thực hiện nghiêm, công bằng và đồng đều, sẽ ảnh hưởng không tốt đến kỷ luật và kỷ cương của bộ máy. Vì sao, xin trả lời ngay rằng, khi cán bộ trong hệ thống, đặc biệt là cấp cơ sở, thực hiện Kết luận 226 qua loa, nửa vời theo kiểu “tùy tình hình” thì sẽ làm cho những người thực hiện nghiêm cảm thấy bất bình, còn người làm qua loa lại thấy mình “an toàn”. Như thế, kỷ luật sẽ không còn là chuẩn mực chung mà trở thành lựa chọn cá nhân. Điều này làm thui chột động lực đổi mới và khuyến khích tâm lý “lảng tránh quy định”.

Ở cấp cơ sở, nơi áp lực công việc rất nặng, việc họp vẫn kéo dài như cũ sẽ tạo ra cảm giác “chính sách không đi vào cuộc sống”. Khoảng cách giữa chỉ đạo và thực thi vì thế không chỉ là kỹ thuật mà là khoảng cách niềm tin. Khi niềm tin bị kéo giãn, sự tuân thủ sẽ chuyển từ tự giác sang hình thức.

Đối với người dân, dù không trực tiếp dự họp, họ lại là người cảm nhận rất rõ hệ quả. Họ thấy thủ tục chậm, quyết định kéo dài, việc cần làm không được giải quyết đúng hẹn. Khi đó, những thông điệp về siết kỷ luật, tăng hiệu lực quản lý dễ bị nhìn như khẩu hiệu. Niềm tin vào bộ máy hao mòn lặng lẽ qua mỗi việc nhỏ bị chậm trễ, mỗi lời hứa không thành kết quả.

 Nguy hiểm hơn là sự hình thành một văn hóa “nhờn kỷ luật”. Khi quy định không được thực hiện nghiêm, người ta sẽ mặc định rằng kỷ cương có thể thương lượng. Một khi kỷ luật trở nên mềm yếu ở những việc tưởng nhỏ như hội họp thì rất khó để đòi hỏi sự nghiêm minh ở những vấn đề lớn hơn. Vì vậy, thực thi nghiêm các quy định về họp không chỉ để rút ngắn thời gian hay giảm phiền hà, nó còn tạo ra niềm tin vào bộ máy. Bộ máy nói được, làm được mới là nền tảng bền vững được xây dựng từ niềm tin của cán bộ, đảng viên và người dân.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

MẠNH THẮNG (thực hiện)