Người Dao gọi là Tết năm cùng với nếp nghĩ, năm cũ đã đi đến tận cùng của thời gian, của mùa vụ, của những nhọc nhằn. Khi nương rẫy đã thu hoạch xong, lúa đã đầy bồ, ngô đã treo kín gác bếp, người ta mới yên tâm nghĩ đến Tết. Tết năm cùng thường được tổ chức vào những ngày cuối năm âm lịch, với ý nghĩa tiễn năm cũ đi trọn vẹn, không để sót điều gì chưa làm, chưa tạ. Chính vì vậy, mâm cỗ Tết năm cùng mang ý nghĩa tri ân và cầu phúc, được chuẩn bị rất công phu, cẩn trọng, thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu với tổ tiên.

leftcenterrightdel

Phụ nữ Dao nô nức chuẩn bị mâm cỗ Tết năm cùng. Ảnh: HOÀNG ĐÔNG 

Trung tâm của mâm cỗ là thịt lợn, thường là lợn nuôi trong nhà suốt cả năm. Con lợn được chọn kỹ, khỏe mạnh, tượng trưng cho sự sung túc. Thịt lợn được chế biến thành nhiều món: Thịt luộc, thịt hấp, thịt xào măng rừng, lòng dồi...  

Trên mâm cỗ Tết năm cùng, bánh chưng gù luôn được đặt ở vị trí trang trọng. Chiếc bánh không vuông vức mà hơi cong, như dáng núi trập trùng nơi người Dao sinh sống. Bánh được gói bằng lá dong rừng, buộc lạt giang. Bên trong là nếp nương trắng dẻo, đỗ xanh bùi, thịt lợn bản chắc và thơm. Khi cắt bánh, mùi nếp quyện với mùi lá rừng lan tỏa, gợi cảm giác ấm áp. Bánh chưng gù, với người Dao là món ăn để nhớ: Nhớ đất, nhớ rừng, nhớ tổ tiên đã dạy con cháu cách trồng lúa, nuôi lợn, gói bánh đón Tết.

Mâm cỗ còn có gà luộc vàng ươm, bát canh xương nấu măng rừng thanh ngọt, đĩa rau rừng xanh non, xôi nếp nương nhuộm màu từ lá cây. Mỗi món ăn đều mang dấu ấn của núi rừng, của bàn tay con người biết nương theo tự nhiên mà sống. Không cầu kỳ, không phô trương, mâm cỗ Tết năm cùng hấp dẫn bởi chính sự chân thật và hài hòa ấy.

leftcenterrightdel
 Sau nghi lễ, người dân ăn uống, trò chuyện. Ảnh: HOÀNG ĐÔNG 

Và rồi, khi mâm cỗ đã đủ đầy, chủ nhà thắp nén hương dâng lên bàn thờ tổ tiên. Khoảnh khắc ấy, không gian như lắng xuống. Khói hương quyện với mùi thức ăn, với hơi ấm bếp lửa, tạo nên một cảm giác linh thiêng. Người Dao tin rằng, tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu, chứng giám cho một năm đã qua và phù hộ cho năm mới sắp đến.

Sau lễ cúng, mâm cỗ được hạ xuống. Cả gia đình quây quần bên nhau, chén rượu men lá được rót ra, sóng sánh. Rượu cay nồng, thơm mùi lá rừng, uống vào thấy ấm cả người. Chén rượu Tết uống cho vui, kéo gần khoảng cách, để câu chuyện năm cũ được kể lại, để dự định năm mới được sẻ chia.

Bên mâm cỗ Tết năm cùng, người Dao ăn Tết thật thấm đượm nghĩa tình. Họ mời nhau bằng sự chân thành. Nhà có nhiều san sẻ cho nhà có ít, bản trên bản dưới qua lại giao lưu. Mâm cỗ vì thế không chỉ diễn ra trong một gian nhà, mà lan tỏa thành mâm cỗ chung của cả cộng đồng.

Theo biến thiên của thời gian, ngày nay, cuộc sống đã có nhiều đổi thay, nhưng mâm cỗ Tết năm cùng của người Dao ở Thanh Hóa vẫn được gìn giữ như một phần hồn cốt văn hóa. Trong từng món ăn giản dị, từng nghi thức cúng lễ, ẩn chứa kho tàng tri thức dân gian về ẩm thực, tín ngưỡng và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhắc nhở người Dao nhớ về cội nguồn, về sự gắn bó bền chặt giữa con người với gia đình, cộng đồng và núi rừng quê hương.

PHƯƠNG HẠNH