Trong phạm vi một bài báo và chỉ nói trong phạm vi sáng tác ca khúc, tôi muốn nhắc tới hai nhạc sĩ mà tên tuổi của họ đã gắn bó và thân thuộc với nhiều thế hệ thính giả: Nhạc sĩ Hoàng Vân và nhạc sĩ Hoàng Hiệp.
Nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Vân, chúng ta thường nhớ ngay đến “Hò kéo pháo”-tác phẩm gợi biểu tượng anh hùng rất đặc trưng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tác giả cho biết, bài hát diễn đạt theo cách quay phim, ghi lại cả quá trình kéo pháo mà tác giả chứng kiến. Dĩ nhiên, phải rất có tài mới nghệ thuật hóa được những hiện tượng có thật, để rồi truyền cảm và đặt dấu ấn vào tâm hồn người nghe như sự kiện đặt dấu ấn vào lịch sử!
Thật ra, lối diễn đạt này đã có trong “Tin chiến thắng” được viết năm 1951. Tác giả như thuật lại tiếng loa vang trên đồng một buổi chiều báo tin thắng trận từ các chiến trường dội về, cùng những bước chân theo tiếng hò chuyển thóc ở hậu phương đang rộn rã khắp nơi: Tất cả vì tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng! Bài hát hồn nhiên như cuộc sống ngoài đời vậy. Chính lối diễn đạt này đã tạo nên bút pháp Hoàng Vân với lối tiến hành giai điệu độc đáo: Chủ đề âm nhạc biến đổi theo từng đoạn, thậm chí từng câu, dường như tạo ra nhiều chủ đề nhỏ móc xích với nhau, vừa bám sát lời ca vừa đem lại sự phong phú về sắc thái tình cảm nhưng vẫn thống nhất trong sự tuân thủ chặt chẽ bố cục logic: Trình bày-phát triển-kết thúc.
Chúng ta có thể nhận thấy đặc điểm này trong “Tình ca Tây Nguyên”, “Nổi trống lên rừng núi ơi”, “Tôi là người thợ lò”, “Quảng Bình quê ta ơi”, “Bài ca xây dựng”, “Người chiến sĩ ấy”, “Chào anh Giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng”, thậm chí trong cả các bài hát viết cho thiếu nhi: “Có con chim nhỏ”, “Mùa hoa phượng nở”, “Em yêu trường em”... Với bố cục giai điệu như vậy, có thể cho phép lời ca thỏa sức nói lên những ý, những tứ mà nội dung tư tưởng đòi hỏi. Thậm chí có những ý tưởng như khó có thể đặt vào lời ca, vậy mà vẫn vang lên rất đẹp trong giai điệu của Hoàng Vân, như: Cương lĩnh của mặt trận ta, như mũi tên đang bật khỏi ná ("Tiếng cồng giải phóng, tiếng cồng chiến thắng"), Nơi rừng núi quê ta, con trâu cũng biết chống giặc ("Nổi trống lên rừng núi ơi"), Mỗi khi lò thủng, đón cơn gió nồm Nam mát rượi ("Tôi là người thợ lò")... Để đạt hiệu quả này, nhạc sĩ Hoàng Vân đã sử dụng thủ pháp hát nói (recitative), tuy nhiên đã giai điệu hóa ở mức cao, tạo nên cái duyên riêng của mình.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác, Hoàng Vân sử dụng chất liệu dân ca ở nhiều địa phương khác nhau, nhưng chính nhờ những yếu tố trên mà giai điệu, dù mang đậm sắc thái địa phương, vẫn hiện rõ cá tính sáng tạo của tác giả, như: “Bài ca Vĩnh Linh”, “Hò Huế chiến thắng”, “Cô gái Thái Bình, cô gái Việt Nam”, “Tình ca Tây Nguyên”...
Có một điều thú vị là khi tôi viết Luận án “Dân ca và ca khúc Việt Nam hiện đại”, Phó giáo sư, Phó tiến sĩ V.I.Samokhvalov, Nhạc viện Kiev (Liên Xô trước đây)-người thầy hướng dẫn của tôi đã nhận xét: Ca khúc của Hoàng Vân hoàn mỹ toàn diện, cả chiều ngang lẫn chiều dọc (tức giai điệu và hòa âm). Hòa âm biểu hiện trong phần đệm piano. Tác giả đã trực tiếp viết phần đệm piano, qua hai ca khúc “Nổi trống lên rừng núi ơi” và “Hát về cây lúa hôm nay”, ta thấy Hoàng Vân sử dụng xen kẽ những hợp âm và những chồng âm rất logic, vừa gợi được hiệu quả công năng vừa phù hợp với giai điệu vẫn mang bản chất đơn âm, nghĩa là chiều ngang quyết định tất cả trong lúc giai điệu mang bản chất đa âm (ca khúc châu Âu thì ngược lại, chiều dọc quyết định hoàn toàn sự phát triển của giai điệu).
Vậy là đã gần một thế kỷ kể từ khi ra đời ca khúc “Tin chiến thắng”, bao thế hệ thính giả đã qua, bao thế hệ sẽ đến, nhưng tôi tin thế hệ nào cũng trân trọng, nâng niu trong tâm hồn mình âm hưởng tuyệt vời của những ca khúc được viết nên từ một tài năng lớn: Hoàng Vân.
Hoàng Hiệp đến với công chúng cả nước bằng một tác phẩm nổi tiếng ngay từ lúc ra đời (năm 1957) và sức sống của nó không hề suy giảm cho tới hôm nay: “Câu hò bên bờ Hiền Lương” (Lời của Hoàng Hiệp và Đằng Giao).
Thật kỳ diệu, phong cách Hoàng Hiệp cũng được định hình ngay từ bài này, dĩ nhiên là mỗi ngày thêm đa dạng hơn trong biểu hiện và phong phú hơn trong sắc thái tình cảm.
Tâm hồn Hoàng Hiệp cũng như Hoàng Vân rất trữ tình, tuy nhiên bản chất rất khác nhau. Trong những ca khúc của mình, Hoàng Vân không ít lần gọi “em”: Bên ánh đèn khuya em đã thức bao đêm/ Dưới chiến hào dân quân nhiều trận có em, Tâm hồn em tươi mát xanh như bóng lá bàng/ Trái tim em đỏ nhiệt tình như hoa phượng vĩ (Bài ca người giáo viên nhân dân); Trong tình yêu quê hương có một tấm lòng dành cho em-người mà anh yêu quý vô cùng (Tình ca người thợ mỏ), thậm chí nhấn mạnh cái tôi: Tôi là người thợ lò, sinh ra trên đất mỏ ("Tôi là người thợ lò")... nhưng thực chất là nói cái ta. Ngược lại, Hoàng Hiệp đã xưng “ta”: Hỡi chim hãy dừng cho ta gửi đến phương xa vời ("Câu hò bên bờ Hiền Lương"), Hà Nội của ta, thủ đô yêu dấu, Ôi nhớ Thủ đô năm ấy, ta đánh giặc trên mâm pháo ("Nhớ về Hà Nội"), đặc biệt trong “Ngọn đèn đứng gác” (phổ thơ Chính Hữu) hoàn toàn đứng trên cái ta: Trên đường ta đi đánh giặc... Đèn ta thắp niềm vui theo dõi. Đèn ta thắp những lời kêu gọi. Đi nhanh, đi nhanh, chiến trường đã giục. Đầy núi, đầy sông, đèn ta đã mọc... vậy mà khi hát lên theo giai điệu của Hoàng Hiệp thì cái tôi vẫn bao trùm tất cả, thông qua lối nói tâm tình rất sâu, rất ấm, rất riêng tư mà chỉ Hoàng Hiệp mới có!
    |
 |
| Nhạc sĩ Hoàng Hiệp. Ảnh tư liệu |
Có lẽ vấn đề vẫn là ở cách tiến hành giai điệu. Nếu trong tuyến giai điệu của Hoàng Vân luôn chứa đựng sự xuất hiện bất ngờ những yếu tố mới với màu sắc, giọng điệu mới thì giai điệu của Hoàng Hiệp hết sức nền nã, hình như tất cả sinh ra từ một màu, từ chất liệu của một chủ đề mà thôi. Từ đó dẫn đến sự khác nhau trong tay nghề: Hoàng Vân giỏi trong việc điều tiết, dung hợp nhiều màu sắc vào một tổng thể, ngược lại, Hoàng Hiệp giỏi trong việc chế tác tạo nên sự tương phản đậm-nhạt của một màu để cuốn hút người nghe. Có lẽ vì vậy, chất trữ tình của Hoàng Hiệp đã đi vào cái tôi một cách tự nhiên nhưng đầy uy lực, đó cũng là đặc điểm lớn nhất trong bút pháp Hoàng Hiệp.
Với thế mạnh này, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã thành công rực rỡ trong một loạt tác phẩm phổ thơ: “Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây” (thơ Phạm Tiến Duật), “Ngọn đèn đứng gác” (thơ Chính Hữu), “Thơ tình lính biển” (thơ Trần Đăng Khoa), “Mùa chim én bay” (thơ Diệp Minh Tuyền), “Viếng lăng Bác” (thơ Viễn Phương), “Lá đỏ” (thơ Nguyễn Đình Thi), “Cô gái vót chông” (thơ Lô Mô Y Choi), “Đất quê ta mênh mông” (thơ Dương Hương Ly)... Mỗi bài thơ có một giọng điệu riêng, nhưng bao nhiêu bài thơ, Hoàng Hiệp có bấy nhiêu cách phổ nhạc phù hợp mà không hề đánh mất mình. Nhiều trường hợp tách lời thơ ra thì giai điệu giảm hẳn sức sống, nhưng với giai điệu Hoàng Hiệp thì ngược lại, khi vang lên một mình càng lộ rõ cá tính sáng tạo của nhạc sĩ. Có thể nói, Hoàng Hiệp là một pháp sư rất cao tay trong lĩnh vực này!
Cần nói thêm, với bút pháp này, Hoàng Hiệp cũng đã thành công ở cả hai cực, ở hai lối nói khác biệt nhau: Lối nói chân quê và lối nói thành thị. Sự mộc mạc, chân quê trong “Câu hò bên bờ Hiền Lương” được tiếp nối và phát triển trong “Đất mũi Cà Mau”. Với tốc độ chậm từ nhịp 2/2 chuyển sang nhịp 6/4, bài hát như càng chậm hơn và cùng với âm hưởng dân ca Đồng bằng Bắc Bộ, tâm hồn chất phác của người dân quê đất mũi như được trải ra cùng với mênh mông rộng dài của trời biển Cà Mau. Qua bài này, chúng ta ghi nhận một bước tiến mới của Hoàng Hiệp trong khắc họa con người và thiên nhiên miền quê biển, đồng thời, chúng ta vô cùng thích thú khi được nghe một giọng điệu hoàn toàn thành thị ở bài “Nhớ về Hà Nội”. Cùng với lời ca, giai điệu trên nhịp 6/8 như hé ra từng khía cạnh hết sức tế nhị của nỗi nhớ da diết đến nao lòng, bài hát đã trở thành một biểu tượng mới bằng âm thanh của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Hoàng Hiệp bên Hoàng Vân (Hoàng Hiệp tên thật là Lưu Trần Nghiệp, Hoàng Vân tên thật là Lê Văn Ngọ), theo tôi, cả hai xứng đáng được tôn vinh là những "ông hoàng" của nghệ thuật ca khúc Việt Nam chúng ta.
Nhạc sĩ DOÃN NHO