Lưu Trùng Dương là con người đặc biệt không chỉ của mảnh đất Trung Trung Bộ mà còn là điển hình của văn nghệ sĩ sớm theo cách mạng, đúng như nhà thơ Tế Hanh đã nhận định: “Lưu Trùng Dương làm thơ vì cách mạng, và nhờ có cách mạng anh mới thành nhà thơ”. Cũng chính Lưu Trùng Dương đã đặt ra câu hỏi rất thẳng thắn cho mình: “Mình sẽ làm gì nếu như mình không đi bộ đội? Và nếu như cách mạng không giao cho mình nhiệm vụ làm thơ?”. Câu hỏi vang lên với chàng trai chưa đầy 20 tuổi Lưu Trùng Dương và cũng chính chàng trai ấy đã rất ý thức về tương lai của mình: “Nhiệm vụ đầu tiên mà cách mạng phân công cho tôi là tuyên truyền-cổ động. Tôi không ngờ nhiệm vụ đầu tiên sẽ trở thành chức năng, nghề nghiệp suốt đời. Chỉ ít hôm sau ngày toàn quốc kháng chiến, tôi gia nhập đoàn tuyên truyền xung phong Mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng”.
Cái thời ấy của các ông là như thế. Cách mạng đã thổi một luồng gió mới vào mọi người dân nô lệ và lớp thanh niên như Lưu Trùng Dương ùa đến với cách mạng như trở về với tổ tiên cội rễ, máu trở về tim đập vang nhịp đập của con dân một dân tộc anh hùng. Cách mạng đã cho lứa thanh niên mới sự chuyển đổi vũ bão từ bên trong và gắn cuộc đời mình cùng với cách mạng. Lưu Trùng Dương đã viết về chính điều đó: “Tôi nghĩ đó là niềm vui lớn của người làm thơ vì cách mạng. Niềm vui ấy chắc chắn là lớn hơn tất cả nỗi khổ đau mà cuộc đời và thơ đem lại cho người cầm bút. Và tôi cũng nghĩ như một người đi trước: “Nếu được sống lại đời mình một lần nữa, tôi sẽ lại chọn con đường tôi đã đi”.
    |
 |
Nhà thơ Lưu Trùng Dương. Ảnh do gia đình nhà thơ cung cấp
|
Thế hệ thanh niên trong dấu mốc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đều đã nhận thức, xung phong dâng hiến cuộc đời mình như thế.
Lưu Trùng Dương tên khai sinh là Lưu Quang Lũy. Ông từng sử dụng nhiều bút danh như: Lưu Trùng Dương, Trần Hướng Dương, Trần Thế Sự, Lưu Ly... cũng là để thêm thuận tiện trong giới văn bút và các sáng tác văn học, nghệ thuật. Ông sinh ngày 5-5-1930, tại Hải Châu, Đà Nẵng, trong gia đình nổi tiếng hiếu học với các thành viên sớm đến với thơ ca và cách mạng. Người anh cả của Lưu Trùng Dương là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận; người anh thứ hai là Lưu Quang Thành. Lưu Quang Lũy đã sớm được cha mẹ cho ra Hà Nội học. Lưu Quang Lũy học ở trường Bưởi (nay là Trường THPT chuyên Chu Văn An). Trước Ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12-1946, Lưu Quang Lũy trở về quê hương làm cán bộ tuyên truyền-xung phong của Quảng Nam-Đà Nẵng. Theo thư gọi của thầy giáo cũ Cao Văn Khánh, Lưu Quang Lũy đi bộ từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi gia nhập Quân đội khi vừa tròn 17 tuổi (năm 1947). Kể từ đó, ông gắn bó với cuộc đời bộ đội và cái tên Lưu Trùng Dương cũng ra đời từ đó.
Theo hành trình sáng tác, Lưu Trùng Dương đã xuất bản: "Tập thơ của người lính" (thơ); "Những người đáng yêu nhất" (thơ); "Muối của Bok Hồ" (kịch dân ca); "Nỗi nhớ màu xanh" (thơ); "Trên đỉnh Núi Thành ta hát" (thơ); "Họ đi tìm thiên đường" (tiểu thuyết); "Thơ tặng anh Bộ đội Cụ Hồ" (thơ)... Các tác phẩm đã thể hiện rất rõ một mạch thơ ca cách mạng mà trong đó, hình ảnh người chiến sĩ, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ hiện lên vừa phong quang vừa gần gũi, đúng như Lưu Trùng Dương đã viết trong lời tự bạch tại bộ "Tổng tập nhà văn Quân đội-kỷ yếu, tác phẩm": “Viết cho ai? Trên con đường đầy chông gai, thử thách, đồng chí, đồng đội của tôi đang cần có đủ hành trang. Những người thân của tôi đang chiến đấu trên các mặt trận, không những chỉ cần được tiếp tế gạo, muối, súng đạn, thuốc chữa bệnh... mà còn cần được tiếp tế những món ăn tinh thần với nhiệt lượng cần thiết, những viên thuốc ít nhiều có tác dụng chữa bệnh, bổ dưỡng tâm hồn. Tôi chỉ được phép gửi đến cho họ những gì có ích. Tuyệt đối không gửi đến cho họ những gì độc hại, dù chỉ là một giọt nhỏ li ti, mắt thường không nhận thấy”.
    |
 |
Đường ở TP Đà Nẵng được đặt theo tên nhà thơ Lưu Trùng Dương. Ảnh do gia đình nhà thơ cung cấp
|
Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta đã có được sự phục vụ ngay từ trong từng suy nghĩ nhỏ nhất của người chiến sĩ, nhất là những nghệ sĩ-chiến sĩ. Điều đó lý giải sự tất thắng của chính nghĩa. Điều đó lý giải những chiến thắng đã đi vào lịch sử từ tổ tiên chúng ta đến thời đại Hồ Chí Minh.
Vậy mà, các sáng tác thơ văn của Lưu Trùng Dương không hề đơn điệu, xơ cứng, giáo điều mà vô cùng mềm mại, nhất là những bài thơ tình ngay trong kháng chiến càng cho chúng ta sự khâm phục không riêng gì ông mà cả một thế hệ:
Anh yêu em vì sao không rõ
Chỉ thấy yêu em anh thấy yêu đời
Như chim bay thở hít khí trời
Như ruộng lúa uống dòng nước ngọt
Em hy vọng, em là mơ ước
Là niềm vui, nỗi khổ, niềm đau
Trái tim anh ở trong ngực em rồi
Tim không thể rời em mà sống được
Và nếu anh có đầu thai kiếp khác
Anh chắc rằng anh sẽ lại yêu em!
Khi anh đứng canh cho đất nước bình yên
Vui sướng thấy em gắn liền đất nước...
(Anh yêu em)
Thơ Lưu Trùng Dương luôn tràn đầy cảm hứng lãng mạn cách mạng, đồng thời dễ đọc, dễ nhớ. Một thời ở các đơn vị bộ đội Trung Trung Bộ, sổ tay người nào cũng chép thơ của ông. Với ông, làm thơ cũng là nhiệm vụ. Thơ Lưu Trùng Dương gắn liền với đời sống bộ đội, đời sống nhân dân càng cho thấy cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta, nhân dân ta trước tiên và trên hết chính là để giành lấy và bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ, giữ gìn toàn vẹn quê hương, Tổ quốc mình:
Rồi giặc đến, mẹ già, em nhỏ
Đều xông lên trận địa, kiên cường
Người gánh nước trở thành pháo thủ
Người cho quà tiếp đạn dưới mưa bom.
Thuốc nổ căm hờn nhồi từng viên đạn
Đất rung lên theo tiếng pháo ta gầm!
Tình cá nước lên bài thơ chiến thắng
Xác máy bay rơi xuống vũng trâu đằm.
Trăng sắp mọc, cả làng ra kéo pháo
Trăng lên cao, trận địa dựng xong rồi
Nhìn công sự vững vàng ta hiểu thấu
Có lòng dân nên có cả đất trời.
(Ghi trên trận địa)
Thơ Lưu Trùng Dương luôn là như vậy. Bài thơ “Ghi trên trận địa” ông viết tại một trận địa pháo cao xạ ở Nghệ An mùa hè 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện bắn phá điên cuồng miền Bắc. Những mẹ già, em nhỏ với đôi bàn tay, đôi chân trần đến với bộ đội trên trận địa pháo trong những tháng ngày cao điểm bắn phá của quân thù đã cho chúng ta những suy nghĩ, xúc động tột cùng về chiến tranh, về vẻ đẹp con người Việt Nam, đất nước mình, quê hương mình ngày đánh giặc. Tôi đã dừng rất lâu trong khổ thơ ở bài thơ trên:
Mươi em gái chạy băng đồng gánh nước
Tưới chiến hào như tưới một vườn ươm
Dòng nước tưới để ngăn ngừa bụi cát
Có hay chăng tưới mát tâm hồn.
Thơ Lưu Trùng Dương, từ những dòng đầu tiên đến bài thơ cuối cùng ông viết đều là hiến tặng cho nhân dân và Tổ quốc. Điều đó thật đẹp biết bao! Đẹp như đường phố mang tên Lưu Trùng Dương hôm nay các em học sinh tíu tít khăn quàng đỏ trong nắng thu vàng ngày tựu trường.
Ngày Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung còn sống, mỗi khi trò chuyện và căn dặn về công việc văn bút, thành tựu và cả những hy sinh của đội ngũ văn nghệ sĩ Liên khu 5 mà Lưu Trùng Dương là một trong những thành viên chủ chốt, vị tướng thường rất xúc động. Ông định nói điều gì đó mà chẳng thấy cất nên lời. Ông im lặng như vầng mây non nước Sơn Trà thanh bình soi bóng dòng sông Hàn lô xô sóng trắng. Chúng tôi cũng im lặng và luôn hiểu sâu sắc rằng, một con người như Lưu Trùng Dương đã dành cả cuộc đời và thơ ca cho cách mạng thì chúng ta hãy chọn cách lặng im mỗi khi tưởng nhớ về ông.
Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI