Không nhớ đây là lần thứ bao nhiêu chúng tôi đến Huế. Chuyến này, trong những trải nghiệm khám phá văn hóa mảnh đất cố đô, chúng tôi ngược hướng Đông Bắc về phía đầm Chuồn. Nhưng không phải để tham quan khu du lịch hấp dẫn thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang rộng lớn hữu tình mà tìm tới làng An Truyền (làng Chuồn), phường Mỹ Thượng, TP Huế, nơi có liễn làng Chuồn nổi tiếng một thời.

Trong nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng xứ Huế, có 3 dòng tranh dân gian là tranh làng Sình, tranh làng Tây Hồ và liễn làng Chuồn. Liễn làng Chuồn có nét độc đáo riêng. Làng Chuồn xưa nổi tiếng với truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt, làm quan trong triều. Liễn làng Chuồn là sản phẩm liễn Tết đặc trưng được ra đời dựa trên chính nền tảng là vốn tri thức và văn hóa của người dân trong làng. "Liễn" chỉ chung các tấm giấy hồng điều dùng để viết chữ, câu đối trang trí trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán. Những bộ liễn làng Chuồn thường gồm một đại tự (Phúc, Lộc, Thọ) ở giữa và cặp câu đối hai bên, được trang trí bằng những họa tiết truyền thống như tứ linh, đào, mai... Cũng vì đặc điểm này mà liễn làng Chuồn đòi hỏi người làm không chỉ có kỹ thuật, sự khéo tay mà còn phải có vốn liếng chữ nghĩa, văn hóa, biết chữ Hán, thư pháp và am hiểu các điển tích, điển cố.

leftcenterrightdel
Hình ảnh bộ liễn làng Chuồn được phục chế và tô màu theo một cách mới dựa trên tư liệu thu thập được. Ảnh: NGÔ ĐỨC

Xưa, khi liễn làng Chuồn trong thời phát triển rực rỡ, trước Tết độ hai tháng, các gia đình nghệ nhân đã tất bật sản xuất hàng để cung cấp trong vùng và khu vực lân cận. Những bộ liễn rực rỡ mang đậm không khí Tết và ý nghĩa về sự ham học, trau dồi tri thức đã theo chân người dân đi khắp nơi, trở thành một phần không thể thiếu trong dịp xuân của nhiều gia đình xứ Huế. Với kỹ thuật in mộc bản phần chữ và đường nét chính, kết hợp với vẽ và tô màu thủ công của nghệ nhân khiến cho mỗi sản phẩm vẫn mang nét riêng. Việc sử dụng giấy nhuộm màu giá rẻ khiến một sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc, tính nghệ thuật độc đáo nhưng giá thành lại rất bình dân, ngay cả người nghèo cũng có thể mua trang trí nhà cửa dịp Tết.

Liễn làng Chuồn phát triển rực rỡ vào thời phong kiến, theo thời gian, giống như nhiều nghề truyền thống khác đã dần mai một và chỉ còn được biết đến qua những thông tin ít ỏi.

Hôm chúng tôi đến làng Chuồn, rong ruổi vào các ngõ ngách hỏi thăm cả buổi, tuyệt không ai còn biết đến một nghề, sản phẩm nổi danh của làng mình xưa kia. Khi mặt trời đứng bóng, chúng tôi ghé vào chợ An Truyền gọi vài đĩa bánh khoái đầm Chuồn nức danh, trò chuyện với mấy o, chúng tôi được o Thỏa giới thiệu về một cụ ông đang dắt xe đạp ngang qua. Theo chỉ dẫn của cụ ông, chúng tôi tìm đến gia đình một nghệ nhân cuối cùng của làng, nhưng người này đã qua đời nhiều năm, hỏi thăm con cháu thì không ai còn giữ được bức liễn nào hay đồ dùng gì liên quan đến nghề. Vậy là liễn làng Chuồn đã thật sự thất truyền và biến mất khỏi đời sống người Huế?

leftcenterrightdel
Nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt ở làng mộc bản Thanh Liễu khắc bức đại tự chữ "Phúc" lồng ghép họa tiết tứ linh. Ảnh: NGÔ ĐỨC

Mang theo nỗi tiếc nuối về một làng nghề và di sản độc đáo giàu giá trị văn hóa, ý nghĩa giáo dục vào dịp Tết đến, xuân về, chúng tôi tìm gặp anh Ngô Quý Đức, người tâm huyết với văn hóa truyền thống. Anh cùng cộng sự thực hiện khởi động dự án hồi sinh liễn làng Chuồn, bởi cũng giống như chúng tôi, anh đau đáu một câu hỏi: Với những di sản đang sống, ta tìm cách lan tỏa. Vậy với những di sản đã mất, liệu chúng ta có thể làm gì hơn là tiếc nuối?

Trong nhiều năm gắn bó với văn hóa và bảo tồn di sản, anh Đức chia sẻ: “Làm việc với các làng nghề, tôi nhận ra một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt. Kỹ thuật in khắc của liễn làng Chuồn có sự tương đồng và gắn kết với mộc bản làng Thanh Liễu (Hải Dương trước đây), có chung một dòng chảy với các dòng tranh dân gian khác như: Tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng (Hà Nội), tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)... với nghề làm giấy dó, giấy điều xưa... Di sản của cha ông luôn có cách để nương tựa vào nhau mà sống”. Cụ thể, liễn làng Chuồn được tạo thành bởi sự kết hợp, giao thoa từ thư pháp của những nho sĩ Huế; kỹ thuật khắc gỗ tinh xảo của nghệ nhân làng Thanh Liễu xưa vào Huế để tạo nên Mộc bản triều Nguyễn-di sản tư liệu thế giới; kỹ thuật tô vờn màu của tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống... Đó cũng là cơ sở để anh cùng cộng sự quyết tâm thực hiện dự án hồi sinh liễn làng Chuồn, dẫu biết rằng sẽ nhiều khó khăn nhưng cũng đầy hy vọng. Và như thế, hành trình hồi sinh liễn làng Chuồn không chỉ diễn ra tại Huế.

Không còn nghệ nhân, không còn mộc bản gốc, sản phẩm mẫu, hành trình hồi sinh liễn làng Chuồn phải bắt đầu từ việc tìm về các làng nghề tranh dân gian khác để tìm kiếm tư liệu, giống như chắp nối những mảnh ký ức tạo nên hình hài mới cho liễn làng Chuồn.

Việc phục hồi được bắt đầu bằng phục dựng nguyên bản. Từ những tư liệu, bức ảnh cũ có được để số hóa, tô vẽ, “đi lại” những đường nét xưa và in mẫu để nghệ nhân làng mộc bản Thanh Liễu khắc lại những ván in mộc bản đầu tiên, tái hiện những bộ liễn cổ của làng Chuồn một cách trung thực nhất. Sau đó là quá trình nghiên cứu, phát triển thêm những mẫu liễn mới phù hợp hơn với đời sống đương đại. Và mục tiêu xa hơn, quan trọng nhất, như anh Ngô Quý Đức mong muốn, là mở những lớp đào tạo về kỹ thuật khắc ván và in liễn, kỹ thuật vờn màu cho tranh ngay tại Huế và mong rằng chính những người con của làng Chuồn, của xứ Huế sẽ là người tiếp nối hành trình của di sản này.

leftcenterrightdel

Bộ liễn làng Chuồn được hoàn thiện, trưng bày tại không gian văn hóa Ngự Hà Viên, TP Huế. 

Mới đây, nghề làm tranh Đông Hồ đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là một "cú hích" cho liễn làng Chuồn và những người tâm huyết với văn hóa trên hành trình hồi sinh di sản, dẫu gian nan, thấm mồ hôi và nước mắt nhưng đầy ý nghĩa này. Trong buổi ra mắt dự án hồi sinh nghề Liễn làng Chuồn, nhiều người đã xúc động khi thấy bộ mộc bản phục dựng với bức đại tự chữ "Phúc" lồng ghép họa tiết tứ linh cùng cặp câu đối kinh điển "Thiên địa tam dương thái/ Càn khôn vạn sự xuân" hiện diện trên nền gỗ thị vàng óng đường khắc sắc sảo, tinh tế từng chi tiết; tận mắt nhìn ngắm bức liễn hoàn thiện. Đó không chỉ là sự hồi sinh của một sản phẩm mà còn là câu chuyện truyền cảm hứng về sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt trong dòng chảy đương đại và về tình yêu di sản, về trách nhiệm của thế hệ trẻ với những giá trị văn hóa dân tộc.

HÀ DƯƠNG