Theo cuốn tiểu thuyết kiệt tác hoang đường "Tây du ký", những thiên thần từ lúc bị dục vọng dằn vặt, phải rơi xuống trần nhập thế biến thành yêu tinh, thì việc đầu tiên là họ tự biết xây cất cho mình một hang động. Bất hạnh thay cho những đứa yêu quái không đủ sức sở hữu một "cuốn sổ đỏ". Bởi căn nhà là chỗ rất riêng để thanh thản, tự tin dung dưỡng cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Khi vui thì đó là nơi tiếp đãi bạn bè. Và khi buồn, đó là chốn âm thầm tu dưỡng tử tế, ví như làm thơ chẳng hạn. Một trong các tiêu chí lựa chọn quan chức ở thời phong kiến hoàng kim, thì đa phần người được chọn phải có xuất xứ từ những căn nhà cao môn lệnh tộc. Đại loại, ở cả Đông lẫn Tây, ngôi nhà luôn là một giá trị quan trọng đặc biệt.
Lịch sử kiến trúc phong kiến ở ta không nhiều công trình hoành tráng, có lẽ do người Việt từ lúc lập nước cho đến thời kỳ cận đại luôn ở hoàn cảnh “sáng chắn bão dông, chiều ngăn địch họa”. Dân mà nghèo thì đương nhiên, nhưng ngay cả giới quan lại, thậm chí cả những đại thần đầu triều cũng không hề dư dật. Bần bạch nhưng thanh cao được coi là phẩm tính đáng tôn trọng. Vì thế, phần lớn người Việt thường có nết ăn, nết ở bình dị, tùng tiệm. Ngôi nhà, tài sản đáng giá nhất của họ, luôn cân xứng ấm cúng vừa tầm. Căn nhà lý tưởng của tầng lớp có tiền dưới xuôi là ba gian hai chái có vườn, còn trên ngược là cột và sàn gỗ thoáng mát. Thói quen sinh hoạt đơn sơ ấy đã ngấm vào vô thức của cả cộng đồng.
Không kể cung vua phủ chúa, thì hầu như mỗi căn nhà người Việt đều đẫm đầy dấu ấn của người chủ. Bởi đó là chỗ đọng của, chắt chiu mồ hôi, nước mắt từ nhiều đời. Nó được góp nhặt từ cụ kỵ, rồi nhờ sự dành dụm của ông bà, tiếp đến là sự nâng niu, gìn giữ của mẹ cha. Con cháu mà lương thiện, tử tế, tuyệt chẳng ai nghĩ tới chuyện sẽ bán. Có điều, giờ đây mọi sự đã khác. Phần lớn các siêu thị, quán ăn đang nườm nượp khách ở những địa điểm “vàng” đều được xây trên những mảnh đất mua từ nền nhà đã vài đời nối nhau thừa tự. Chỉ rình các cụ trăm tuổi là con cháu nhăm nhăm bàn bạc bán. Quá nửa đám thị dân đương đại không nhìn thấy trong căn nhà hương hỏa có một bàn thờ, bọn họ chỉ thấy một cục tiền.
Tất nhiên, tiêu chí để con người ta hạnh phúc sống thì có nhiều, bởi đơn giản cách sống của từng cá nhân, từng cộng đồng thường khác nhau. Cicero, triết gia La Mã từng nói, ngôi nhà vừa đẹp vừa bình yên luôn phải có một khoảnh vườn cạnh một thư phòng. Nhưng ở Hà Nội chẳng hạn, thì yên bình nhất vẫn là ngôi nhà lòng ống, đã trên ba đời nằm thanh thản trong khu phố cổ. Cụ kỵ đã ở đây. Ông bà, bố mẹ đương nhiên đã ở đây. Hy vọng đến lượt mình, rồi con cháu mình cũng vậy. Nếp gia phong tứ đại đồng đường tuy không hẳn "khuôn vàng thước ngọc" nhưng luôn được những nhà dư dật tử tế gìn giữ. Mâm cơm chiều có ông bà nội ngồi đầu bàn. Quây quần xung quanh là lũ cháu tròn xoay, nhà phúc dày thì có thêm chắt. Thức ăn tuy có đạm bạc nhưng suốt bữa trên dưới ngập đầy tiếng cười. Vui hay buồn đây, khi cảnh ấy đến hôm nay đã tuyệt hiếm hoi, thậm chí mất hẳn.
Ở khía cạnh nuôi dưỡng một cuộc sống cụ thể vật chất, thì không có gì đích đáng hơn một bữa ăn thường nhật trong gia đình. Vì thế, mâm cơm gia đình của thời 4.0 ngồn ngộn thịt cá. Có điều, bố vừa ăn vừa cắm mặt vào iPad, tranh thủ làm nốt mấy việc sót của công ty. Mẹ chăm chú lướt Facebook. Hai đứa con đủ "nếp, tẻ" dĩnh ngộ, xinh như mộng, cũng chúi mặt vào game điện tử mới tinh chúng đang chơi dở. Thao tác “ọp lai” duy nhất là thỉnh thoảng gắp nhầm đũa bát của nhau, chỉ lúc ấy, họ mới ngẩng mặt nhìn, vẻ lúng túng như xin lỗi. Không thấy ông bà. Nhỡ nếu có thì các cụ cũng ở phòng riêng quạnh quẽ xem ti vi, "ôsin" dọn bữa cho các cụ dùng sớm vì con cháu thường xuyên bận làm, bận học. Nhiều cụ đành văn minh giải khuây lướt Facebook, rồi thành thạo "câu view" bằng thơ lục bát từ đám bạn tổ hưu. Đôi khi trở giời, các cụ mông lung buông smartphone Tàu, cô đơn nhìn qua cửa sổ. Khung cảnh tuyệt vời. Gió vô cảm vờn nhẹ mặt hồ nước. Xa xa thảng thốt những ánh đèn xanh đỏ hắt ra từ những cao ốc, sâu xa cũng nghèn nghẹn vô cảm. Liệu đây có phải chỗ mình đáng sống?
    |
 |
| Tết đoàn viên. Ảnh: LÊ BÍCH |
Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, rồi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cao đẹp. Vì nhiều lý do trong trắng khác nhau, một đoạn dài, người Thủ đô có hẳn một văn hóa nhường nhà. Hồi đó có một chủ trương cực kỳ ngây thơ, lãng mạn: Họp bình bầu phân chỗ ở. Căn cứ trên một số tiêu chuẩn nhất định về đạo đức, về thâm niên làm việc, nhất là về vị trí công tác, người ta sẽ chia nhà cho những ứng viên có đủ tiêu chuẩn. Mà những ứng viên như thế thì nhiều lắm. Bởi đất nước đang trong hoàn cảnh gian nan, hầu hết mọi người đều chủ động hy sinh, đều tận tình cống hiến. Có lẽ bởi thế mà tuyệt đối các cuộc bình bầu đều kết thúc vui vẻ trong tiếng vỗ tay. Không hiếm những vị có hàm thứ trưởng đã vô tư, bình thản nhường tiêu chuẩn nhà cho cấp dưới. Có thể nói không quá, văn hóa nhường nhà ở hậu phương đã góp phần không nhỏ cho những thắng lợi long trời lở đất ở tiền phương. Không hiểu sao tới ngày hôm nay, văn hóa nhường nhà bỗng tuyệt truyền. Hình như quyền sở hữu nhà đã thành quyền thiêng liêng tối thượng, cao hơn hẳn những thứ sở hữu "vớ vẩn" khác, kiểu như tình người.
Giờ đây, để lý tưởng hóa cuộc sống thị dân thì tùy theo hoàn cảnh riêng, mỗi người mỗi cách. Thế nhưng cho dù là ai hay làm nghề gì, đã là dân phố thì tất thảy đều ước ao có được một căn nhà riêng biệt. Bởi đơn giản, chỉ “an cư” thì người ta mới “lạc nghiệp”. Những thị dân trung lưu Việt hôm nay thường thực tế, ít hão huyền, cho nên căn nhà trong mơ của họ cũng không quá hoang đường. Đại loại đấy là một căn hộ chừng hơn trăm mét vuông, ở một khu chung cư hay bị quen miệng gọi là “cao cấp”. Nó có cửa sổ lãng mạn nhìn ra con sông thơ mộng phảng phất bắt đầu ô nhiễm. Hoặc nó có thể ngó xuống một khu đất mướt mát cỏ xanh, lẫn lộn cả người và rác vì đang dang dở giai đoạn giải tỏa. Thang máy thường xuyên đầy ắp “ôsin” đang bấm lên bấm xuống để nựng bọn trẻ ăn bột. Và khi cửa thang mở, người ở trong chưa kịp ra thì người ở ngoài đã ồ ạt chen vào.
Tuy nhiên, chỉ cần khách bước qua cánh cửa căn hộ nặng nề, chắc chắn, bỗng chợt nhiên òa ra một nội thất phi thường. Đập vào mắt là khu bếp sang trọng hoàn hảo, bàn ăn được ngăn với cuồn cuộn soong chảo nồi niêu, treo phía trên một quầy giả bar rượu ốp xanh đỏ cẩm thạch. Phòng khách treo màn ti vi 80 inches, đối diện treo bức sơn dầu sặc sỡ “hoa diên vĩ” cũng ngần ấy “inh” mua ở phố chép tranh Nguyễn Thái Học. Đâu đâu cũng thấy những thiết bị sinh hoạt tối tân, toilet có hẳn một dàn mát xa Hàn Quốc. Nếu chủ nhà là trí thức hay yêu văn nghệ thì biết ngay, bên cạnh cây đàn piano bóng loáng không có vết tay người chơi là một tủ sách gỗ quý to đùng đựng toàn quyển dày cộp bìa cứng phủ bụi. Gia chủ hớn hở, điềm đạm bảo, đã qua hết rồi cái thời trọc phú “ăn hết nhiều, ở hết mấy”. Phải chăng căn nhà vốn là nơi mang rõ nét nhất khuôn mặt của người chủ?
Các triết gia vĩ đại cả Đông và Tây luôn đánh giá cao vai trò của gia đình. Với họ, gia đình là tác nhân quan trọng nhất để hình thành một quốc gia. Và gìn giữ một gia đình, không có gì bằng một ngôi nhà. Chỉ khi chung sống thuận hòa dưới cùng một mái ấm, những cá thể lẻ tẻ vô nghĩa mới trở thành một ý nghĩa. Không phải ngẫu nhiên trong tiếng Việt, khi những cặp vợ chồng chung thủy yêu nhau thì lúc nồng nàn nhất, họ thường tha thiết gọi nhau “nhà ơi”.
Thường ở những ngôi nhà tràn ngập hạnh phúc ấy, mùa xuân không bao giờ trôi.
Nhà văn NGUYỄN VIỆT HÀ