Các chiến sĩ Điện Biên, các vị tướng lĩnh và thế hệ con cháu các đồng đội của Đại tướng thi thoảng vẫn đến đây thắp hương tâm sự, báo cáo với ông về công việc và cuộc sống. Ông đi xa thấm thoắt đã gần 40 năm. Ông giờ như vẫn đang ở đây, thanh thản, với khuôn mặt trầm sâu như cảm nhận rất rõ sự chuyển động và phát triển, trưởng thành của đất nước ta, Quân đội ta, nhất là đời sống của nhân dân ta.

Chị Trần Thị Hà, con dâu của Đại tướng hiện đang ở đây chăm sóc ngôi nhà, hương khói, cũng là người thuộc rất kỹ từng kỷ vật. Chị xúc động giới thiệu từng tấm ảnh với sự trân trọng, thành kính và nhất mực tự hào. Trong gian thờ ông, lời viếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến chúng tôi ai nấy đều rất xúc động và khâm phục: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.

leftcenterrightdel

Tác giả và chị Trần Thị Hà tại gian thờ Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ảnh: KIÊN THÁI

Cũng trong gian thờ, chúng tôi vô cùng ấn tượng với bài thơ viếng Đại tướng Lê Trọng Tấn của nhà thơ Tào Mạt. Bài thơ là một thi phẩm đặc biệt, là tiếng khóc của anh hùng trước anh hùng, là tiếng lòng của hàng nghìn, hàng vạn tấm lòng nhân dân, chiến sĩ trước vị Đại tướng kính yêu. Khổ đầu tiên giản dị mà ôm chứa tới vô cùng:

Mưa hòa cùng nước mắt

Viết 5 chữ chào Anh

“Vì nhân dân quên mình”

Nghĩa đời trong đó cả.

Đại tướng Lê Trọng Tấn mất khi ông ngoài 70 tuổi, giữa lúc việc quân, việc nước bộn bề đang rất cần tới trí tuệ và kinh nghiệm của ông. Ông ra đi đột ngột trong sự tiếc thương vô hạn của nhân dân và chiến sĩ cả nước, nhất là đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của Quân đội ta, người đồng đội chiến đấu chí thiết. Đối với một bậc túc nho như nhà thơ Tào Mạt, mỗi chữ ông viết ra trong bài phúng điếu Đại tướng Lê Trọng Tấn đều là những giọt máu không chỉ của riêng ông mà là của tất thảy đồng đội dành cho vị Đại tướng vừa đột ngột đi xa:

Anh lưu để bền lâu:

Một trí lực tinh tường

Một trái tim trung dũng

Và bộ thần kinh luyện thành thép cứng

Với dáng vóc quê hương

đậm đà-bền bỉ-thân thương

Những nét đó mai sau

Con cháu tích góp vào Tổ quốc.

Nhà thơ Tào Mạt như đã thay mặt các giai tầng xã hội tạc nên một mẫu số chung bằng lời thơ giản dị nhưng vô cùng cứng cỏi cũng như con người và sự nghiệp của Đại tướng Lê Trọng Tấn. Lời thơ rất riêng mà cũng rất chung. Tình thơ dành cho một người mà cũng là dành cho non sông đất nước. Thơ khóc anh hùng cũng là thơ tạc anh hùng bằng xương bằng thịt đã hóa thành đồng Tổ quốc trong tấm lòng thơm thảo của nhân dân, của quê hương.

Điện Biên Phủ

Hồ Chí Minh

Việt Nam Quang Vinh

Trong cái Vĩ Đại, bao la như biển lớn mông mênh

Thấp thoáng đó đây, có bóng dáng anh cùng đứng

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”

Những dòng thơ vừa là địa danh, tên người, đồng thời cũng là những tượng đài bất tử. Từ lửa đỏ Điện Biên tới dấu mốc Đại thắng mùa xuân năm 1975 trong trùng trùng quân đi như sóng luôn có bóng dáng người chiến sĩ anh hùng, vị tướng trận trên tuyến đầu với tài trí và trái tim lớn cùng đồng chí, đồng đội vâng theo lời Đảng, lời Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất non sông. Non sông vừa thống nhất, Bắc-Nam một dải ruột liền, nơi đầu biên giới tiếng súng còn chưa dứt, vị tướng trận đã ra đi trong tiếng nghẹn nấc của biết bao người đúng như lời thơ cổ được nhà thơ Tào Mạt đã đau đớn nấc lên: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”.

Những dòng thơ chất chứa tự đáy lòng cứ thế như từng khúc ruột phơi ra:

Tuổi ngoại bảy mươi

Anh có nghĩ thế đâu

Làm gì có quan, tướng, công, hầu trong lớp lớp học trò Bác Hồ anh nhỉ?

Những tiếng: Chiến đấu, chiến thuật, chiến dịch, chiến lược anh nói ra lời, thật là giản dị

Như cánh cò đồng lúa quê ta

Và gần gũi như bát nước chè, củ khoai lang khi bụng đói, đường xa

Rút lại còn 5 tiếng “Vì nhân dân phục vụ”.

Những câu thơ quá đỗi gần gũi, thiết thân mà sao vô cùng khảng khái, khí phách, dài rộng, nhân văn, nhân nghĩa, trí dũng, bác ái giống như cốt cách không chỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cả học trò của Người để cuối cùng rút lại mẫu số chung như khổ đầu bài thơ đã đặt ra: “Vì nhân dân phục vụ”. Khổ thơ cũng chính là một trong những phần xương cốt hình hài của bài thơ khóc vị tướng quân.

Cứ như thế! Trùng trùng đội ngũ

NHÂN DÂN GỌI ANH LÀ ĐẠI TƯỚNG

ANH EM GỌI ANH TỐ LÀ ANH TẤN

Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh

Sáng họp... tối đi... sao vội thế anh?

Đại hội chưa xong... anh lên đường

Như xưa kia Bác Hồ điện gấp

Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập.

Bài thơ như những nhịp quân hành. Dốc cao, đèo sâu, trùng trùng đội ngũ. Đội ngũ thân thuộc máu thịt với nhân dân. Nhân dân gọi anh là Đại tướng chính là nghĩa tình sâu nặng nhất, trọng trách nặng nề mà anh gánh vác suốt cuộc đời tới tận lúc đột ngột lên đường trong ngẩn ngơ của đồng đội và nhân dân. 

“Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách

Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh”

Sáng như trời sang xuân

Tối như mùa đổi tiết

Giữa đường Thủ đô

Mưa lất phất bay

Bùn vương lấm dép

Sắp Tết “hăm hai tháng Chạp” rồi đây

Cách một quãng đường... chẳng kịp chia tay

Cứ vội vàng như đi chiến dịch

Như mũi tên bay là trúng đích!

Nhưng dù bận gì anh cũng về cùng với Bác năm nay.

Từng dòng chữ xuống hàng như từng mũi tên lao trong bão lốc. Trí lực thơ Tào Mạt mười phần thì cả mười phần là tiếng nói chung của “ba nghìn khách”, “chục vạn binh” còn hơn thế nữa của cả vô cùng tận nhân dân thương tiếc một con người. Những vần thơ chữ nghĩa tối giản mà tình nghĩa mênh mang như biển cả sông sâu gói cả đất trời ấm lạnh tiếc thương người đã khuất. Lời thơ viếng vị tướng Lê Trọng Tấn của Tào Mạt cũng là tấm lòng chung của nhân dân và chiến sĩ tiếc thương ông.

Trong buổi trò chuyện với người con dâu và cháu Đại tướng Lê Trọng Tấn, chúng tôi đã có những phút lặng đi khi nhìn lên vách gian thờ câu thơ trong bài thơ viếng Đại tướng của nhà thơ Tào Mạt cứ như động đậy, như có người đang đọc ngân rung.

Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI