"Ký ức vật chất” của dân tộc
BVQG là những hiện vật gốc độc bản, có hình thức độc đáo và giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, khoa học; có khả năng phản ánh một giai đoạn phát triển, một sự kiện lớn hay một thành tựu nổi bật của dân tộc. Nếu di sản văn hóa là ký ức và bản sắc của một cộng đồng thì BVQG được xem là những “ký ức vật chất” đặc biệt nhất. Đó là trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh, bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các tượng Phật, tượng thần, bảo ấn triều Nguyễn, sách cổ, mộc bản, châu bản, các hiện vật khảo cổ, tác phẩm mỹ thuật hiện đại, vũ khí chiến đấu... phản ánh chiều sâu và sự đa dạng của di sản văn hóa Việt Nam.
Trống đồng không chỉ là nhạc khí, vật phẩm nghi lễ mà còn cho thấy trình độ luyện kim phát triển, tư duy thẩm mỹ tinh tế và thế giới quan phong phú của cư dân Việt cổ. Những tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám lưu danh những người đỗ đạt, phản ánh truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài và nền quản trị quốc gia qua nhiều thế kỷ. Các bảo vật gắn với triều Nguyễn, các trung tâm Phật giáo hoặc di tích khảo cổ lại giúp công chúng nhận thức rõ hơn về cấu trúc nhà nước, đời sống tinh thần, kỹ thuật thủ công và giao lưu văn hóa trong lịch sử...
Bảo vật là nguồn tư liệu trực tiếp, có sức thuyết phục cao đối với nghiên cứu khoa học, giáo dục lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước và ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc. Khi được giới thiệu bằng những phương thức phù hợp, bảo vật còn có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp sáng tạo và quảng bá hình ảnh đất nước.
Vấn đề đặt ra trong việc gìn giữ, bảo vệ bảo vật
Thời gian qua, công tác bảo vệ và phát huy giá trị BVQG đã đạt được những kết quả khả quan. Nhiều bảo tàng, khu di tích, địa phương đã đầu tư cải tạo không gian trưng bày, tăng cường bảo quản, lập hồ sơ khoa học và tổ chức các hoạt động giáo dục di sản. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, công tác này vẫn còn không ít khó khăn, thách thức.
Trước hết là nguy cơ xuống cấp do tác động của thời gian, khí hậu và điều kiện bảo quản. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên bị bão, lũ, ngập lụt và độ ẩm cao-là những yếu tố bất lợi đối với hiện vật làm từ gỗ, giấy, vải, da, kim loại, gốm, sơn son thếp vàng hoặc các chất liệu hữu cơ khác. Không ít bảo vật đang được lưu giữ trong các điều kiện kho tàng, thiết bị bảo quản và kiểm soát môi trường còn hạn chế. Một số nơi chưa có không gian trưng bày chuyên biệt, tủ trưng bày đạt chuẩn hoặc hệ thống giám sát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, côn trùng và an ninh. Việc bảo quản chưa đúng kỹ thuật có thể khiến hiện vật bị nứt, mối mọt, oxy hóa, bạc màu, bong tróc hoặc suy giảm giá trị gốc.
Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho BVQG đứng trước nhiều thách thức. Bảo vật có giá trị lớn nên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị trộm cắp, đánh tráo, xâm hại, hủy hoại hoặc buôn bán trái phép. Các sự cố về cháy nổ, mất cắp hiện vật tại một số thiết chế văn hóa và di tích trong những năm qua là lời cảnh báo rõ ràng. Không ít nơi thiếu hệ thống camera, cảnh báo đột nhập, thiết bị phòng cháy, chữa cháy chuyên dụng...
Nguồn nhân lực chuyên môn về bảo quản, tu bổ, phục chế hiện vật còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Bảo quản bảo vật là công việc đòi hỏi kiến thức liên ngành, kết hợp giữa sử học, khảo cổ học, nghệ thuật học, hóa học, vật liệu học, công nghệ thông tin và kỹ thuật bảo tàng. Trong khi đó, ở nhiều địa phương, cán bộ làm công tác di sản vẫn phải kiêm nhiệm nhiều việc; cơ hội đào tạo chuyên sâu, cập nhật công nghệ và tiếp cận chuẩn mực quốc tế chưa đồng đều.
Việc phát huy giá trị bảo vật ở không ít nơi còn thiên về trưng bày tĩnh, chưa tạo được sự kết nối sâu sắc với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Nhiều bảo vật được giới thiệu trong tủ kính với phần thuyết minh sơ lược, thiếu hình ảnh trực quan...
    |
 |
Du khách tham quan Bảo vật quốc gia "Vườn xuân Trung Nam Bắc" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí tại Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. Ảnh: HÙNG KHOA
|
Bảo vệ từ gốc: Hoàn thiện cơ chế và đầu tư đúng mức
Để gìn giữ và phát huy BVQG một cách bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục chế và khai thác giá trị bảo vật. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị đang trực tiếp lưu giữ, chính quyền địa phương, chủ sở hữu và cộng đồng nơi có bảo vật.
Mỗi bảo vật cần có hồ sơ khoa học đầy đủ, cập nhật về nguồn gốc, chất liệu, niên đại, giá trị, hiện trạng kỹ thuật, tình trạng pháp lý, phương án bảo quản và xử lý sự cố. Việc kiểm kê định kỳ phải đi đôi với kiểm tra thực tế, đánh giá mức độ rủi ro và xác định thứ tự ưu tiên đầu tư. Đối với các bảo vật có nguy cơ xuống cấp, cần xây dựng kế hoạch bảo quản khẩn cấp.
Cần ưu tiên ngân sách nhà nước cho các hạng mục thiết yếu như kho bảo quản đạt chuẩn, không gian trưng bày an toàn, hệ thống kiểm soát môi trường, phòng cháy, chữa cháy, thiết bị giám sát an ninh và trang thiết bị phục chế chuyên dụng. Đồng thời, cần có cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa minh bạch, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đóng góp cho việc bảo vệ và phát huy di sản, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc không thương mại hóa thô sơ hoặc làm tổn hại giá trị nguyên gốc của bảo vật.
Các địa phương cần xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa ngành văn hóa, công an, phòng cháy, chữa cháy, chính quyền cơ sở và đơn vị quản lý di tích. Việc bảo vệ bảo vật cần được tổ chức bằng quy trình chuyên nghiệp, có phân công trách nhiệm cụ thể và phương án ứng phó cho từng tình huống rủi ro. Vụ việc ngai vàng triều Nguyễn tại điện Thái Hòa (TP Huế) bị khách tham quan bẻ gãy tay ngai chính là bài học đắt giá.
Đào tạo nhân lực, xây dựng mạng lưới chuyên gia bảo quản
Một giải pháp có ý nghĩa lâu dài là đầu tư phát triển nguồn nhân lực bảo tàng và di sản. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về bảo quản phòng ngừa, tu bổ, phục chế, quản lý rủi ro, quản trị dữ liệu và truyền thông di sản. Các bảo tàng lớn, cơ sở nghiên cứu, trường đại học cần phát huy vai trò là trung tâm đào tạo, hỗ trợ chuyên môn, xây dựng mạng lưới chuyên gia bảo quản hiện vật trên phạm vi cả nước.
Cần coi khoa học - công nghệ là công cụ quan trọng để bảo vệ bảo vật. Hiện nay số hóa không chỉ nhằm “đưa hiện vật lên mạng”, mà cần tạo lập một hệ sinh thái dữ liệu tin cậy về BVQG. Mỗi bảo vật cần được định danh số, có hồ sơ điện tử thống nhất, hình ảnh và mô hình trực quan chất lượng cao, thông tin khoa học được thẩm định để có thể phát triển bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, tham quan thực tế ảo, bài học số cho trường học và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện.
Bảo vật chỉ thực sự “sống” khi được cộng đồng nhận biết, trân trọng và tiếp nối giá trị. Cần kể những câu chuyện hấp dẫn về bảo vật bằng ngôn ngữ gần gũi, chính xác và giàu cảm xúc. Các bảo tàng, di tích có thể đổi mới trưng bày theo hướng lấy công chúng làm trung tâm; kết hợp hiện vật gốc với phim tư liệu, đồ họa thông tin, mô hình tương tác, âm thanh, ánh sáng và hướng dẫn đa ngôn ngữ. Đối với học sinh, sinh viên, cần thiết kế các chương trình giáo dục di sản gắn với trải nghiệm thực tế, trò chơi tìm hiểu lịch sử, hoạt động sáng tạo và học liệu số, qua đó nuôi dưỡng tình yêu và ý thức trách nhiệm đối với bảo vật của dân tộc.
BVQG cũng có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế, thời trang, mỹ thuật ứng dụng, điện ảnh, trò chơi điện tử, quà tặng văn hóa và sản phẩm du lịch. Song mọi hoạt động khai thác cần đặt dưới nguyên tắc tôn trọng giá trị lịch sử, văn hóa và tính thiêng của hiện vật; không tùy tiện sao chép, biến dạng hoặc thương mại hóa một cách dung tục.
Giữ gìn và phát huy giá trị BVQG là công việc lâu dài, đòi hỏi tầm nhìn, nguồn lực, tri thức chuyên môn và sự chung tay của Nhà nước, giới khoa học, các thiết chế văn hóa, doanh nghiệp và mỗi người dân. Bảo vật không chỉ thuộc về quá khứ. Đó là tài sản tinh thần của hiện tại, là nguồn lực cho tương lai và là minh chứng thuyết phục về bản lĩnh sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Bảo vệ tốt từng bảo vật chính là giữ gìn những trang sử sống, để các giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục được truyền trao bền vững cho các thế hệ mai sau.
GS, TS TỪ THỊ LOAN