Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, trong đó có thơ của Vương Trọng, chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp sự hy sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca, sử sách.
Về thôi nàng ơi!
Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa
Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió
Cô đơn giữa mây trời?
...
Người ấy chẳng bao giờ về nữa
Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao?
Đất nước qua trăm trận binh đao
Lở bồi, dâu bể!
...
Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi
Ngày người ấy trở về
Thân thể đã biến thành tro bụi
Còn nhớ được sao câu hẹn, lời thề?
(Trò chuyện với nàng vọng phu)
Thơ Vương Trọng, mỗi câu mỗi chữ đều như được lấy ra từ trái tim đau. Một nỗi đau thiên cổ, một nỗi đau thế hệ này truyền sang thế hệ khác đã nghìn năm như vậy. Thơ Vương Trọng tầng tầng nỗi đau chất chồng như thế sự ngoài kia chưa bao giờ vơi đi, càng chưa biết đến bao giờ dừng lại. Điều đó đã hằn rất sâu trong thơ Vương Trọng. Điều đó đã làm nên thương hiệu thơ của Vương Trọng từ những bài đầu tiên đến hôm nay. Và dường như điều đó đã trở thành phần chính yếu trong các sáng tác của nhà thơ xứ Nghệ.
Vương Trọng là một gương mặt rất bền bỉ trong sáng tác. Luôn có cảm giác ông có mặt ở rất nhiều nơi kể cả những địa danh, sự kiện, dấu mốc lịch sử mà người khác đã viết thành danh, cứ phải đến Vương Trọng mọi việc mới được đóng đinh với tư cách thơ ca rất riêng không trộn lẫn với ai.
Các tác phẩm tiêu biểu của Vương Trọng phải kể đến: "Thơ người ra trận" (Thơ, năm 1972); "Khoảng trời quê hương" (Thơ, năm 1979); "Lời trái đất" (Thơ, năm 1979); "Những ngày xa" (Thơ, năm 1986); "Về thôi nàng Vọng Phu" (Thơ, năm 1991); "Đảo chìm" (Trường ca, năm 1994); "Hồn quê" (Truyện ngắn, năm 1994); "Mèo đi câu" (Thơ thiếu nhi, năm 1996); "Tặng người trong mơ" (Thơ, năm 1996); "Đảo mơ" (Truyện vừa, năm 1998); "Hơi thở rừng hồi" (Trường ca, năm 2004);... đã cho thấy sức bền của một nhà thơ trong đội ngũ nhà văn chiến sĩ. Trong đêm thơ "Những câu thơ viết nên hình đất nước" do Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với một số đơn vị tổ chức năm 2025 đã để lại dấu ấn đặc biệt với người xem truyền hình, nhất là các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT nhân dân. Đêm thơ đó, ai cũng thấy rưng rưng khi nhà thơ Vương Trọng đứng sát nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trên sân khấu kể về thơ ca người lính, kể về những mất mát, hy sinh vô bờ bến của nhân dân ta, người chiến sĩ ta trong các cuộc chiến tranh. Và chính thơ ca đã góp phần làm nên vóc dáng người chiến sĩ, góp phần "Viết nên hình đất nước" chúng ta.
Bạn thơ cả nước đã biết đến bài thơ "Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc" rất nổi tiếng của nhà thơ Vương Trọng. Bài thơ đã được khắc vào bia đá tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc không chỉ là tấm lòng của nhà thơ Vương Trọng mà còn là sự tri ân, ngưỡng vọng chung của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân dân tưởng nhớ và biết ơn tới sự hy sinh xương máu của những người con đã ngã xuống vì Tổ quốc cho ngày thống nhất non sông:
Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.
...
Cần gì ư? Lời ai hỏi trong chiều
Chúng tôi chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.
Bài thơ đã được khắc lên bia đá. Sâu sắc hơn-bài thơ đã được khắc vào trong trái tim các thế hệ người đang sống hôm nay. Mỗi khi đứng trước tượng-bia-thơ nơi ngã ba Đồng Lộc, chúng tôi càng nhủ mình phải sống bao dung hơn, trách nhiệm hơn, giàu khát vọng và thực hành khát vọng mạnh mẽ hơn.
Nhà thơ Vương Trọng luôn cho thế hệ sau ông như chúng tôi một sự tin cậy tuyệt đối. Ông dường như cũng rất tin vào thế hệ kế cận. Nghề văn bút luôn là như thế. Nếu như chúng ta chẳng thể tin nhau, suy giảm niềm tin vào đời sống đã qua và phía trước thì chúng ta lấy gì để chống chọi với những mất mát, thói tật, thiếu khuyết, thậm chí là sự tung tác của cái xấu, cái ác đang giáng vào chúng ta mà chủ yếu hoành hành ở các khu vực yếu thế hôm nay. Ở khu vực này, thơ Vương Trọng đã cất lên những tiếng nói vô cùng đớn đau và mạnh mẽ:
- Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa!
Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi
Thằng bé khóc bụng chưa quen chịu đói
Hai bàn tay xé áo chị đòi cơm.
...
- Nín đi em! Em khản giọng khóc gào
Chị mếu máo, đầm đìa nước mắt
Những bố mẹ bên bờ chia cắt
Phút giây thôi, hãy nghe tiếng con mình!
(Hai chị em)
Thơ của Vương Trọng luôn có một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc. Đó là sự lắng nghe và tin cậy từng câu chuyện mà nhà thơ đã kể ra với một ngôn ngữ và phong cách rất riêng: Trung thực và quyết liệt, đớn đau, ngang trái nhưng luôn thấu tình đạt lý. Thơ lúc này không chỉ là nói về thân phận mà còn để cảnh tỉnh, gióng lên những hồi chuông mạnh mẽ, liên tục, cất tiếng nói không ngừng để chúng ta đưa ra những hành động kiên quyết hơn, có ích hơn. Thơ Vương Trọng, ở một phía nào đó, đã góp phần giải quyết những câu chuyện rất khó để chúng trở về, hiện ra, bước tiếp trong đời sống nhẹ nhàng hơn, thấu đáo hơn.
Chính bởi thế, thơ Vương Trọng luôn rất riêng mà vẫn luôn hòa chung trong dòng chảy lớn:
Thanh minh trong những câu Kiều
Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân
Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân
Phong trần còn để phong trần riêng ai
Bao giờ cây súng rời vai
Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên
Trái tim lớn giữa thiên nhiên
Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...
(Bên mộ cụ Nguyễn Du)
Bên mộ cụ Nguyễn Du là một tác phẩm thể hiện rõ nhất tài hoa của Vương Trọng. Ở đây dường như đã hội đủ tâm và tài, trăn trở thế sự và trách nhiệm công dân của một nhà thơ xứ Nghệ-một trong những cánh chim đầu đàn thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội trong hành trình 70 năm.
Nhà thơ Vương Trọng đã để lại dấu ấn đặc biệt đối với cá nhân tôi khi chứng kiến ông trong căn phòng họp giao ban ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi có vô số di ảnh của các nhà văn đã khuất. Những Văn Phác, Thanh Tịnh, Vũ Cao, Dũng Hà, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,... lứa đàn anh đến những người cùng thời với ông: Lê Lựu, Nguyễn Thị Như Trang, Nguyễn Đức Mậu, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Khắc Trường, Ngô Vĩnh Bình,... gần ngay trên bức tường kia mà đã xa ngàn dặm như mây trắng cuối trời buổi mùa thu thơm mát. Tôi bỗng thấy một Vương Trọng rất khác, lặng im và dường như có điều gì muốn nói ra mà ông cứ ngập ngừng. Đứng bên ông, tôi cũng chẳng biết nói gì trước những con người đã trở thành di ảnh. Cuộc sống của chúng ta, có những lúc im lặng cũng là để nghe người khác từ rất xa nói ra chăng...!
Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội