Phóng viên (PV): Bảo tàng LSQG hiện là một trong những đơn vị đang lưu giữ số lượng lớn BVQG thuộc nhiều thời kỳ lịch sử. Lợi thế này đang được phát huy như thế nào, thưa đồng chí?

ThS Nguyễn Thị Thu Hoan: Hiện nay, trong số hơn 200.000 tài liệu, hiện vật đang lưu giữ, Bảo tàng LSQG có 32 hiện vật, nhóm hiện vật đã được công nhận là BVQG. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật, sưu tập có giá trị đặc biệt, đủ điều kiện để tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị công nhận BVQG trong thời gian tới.

Giá trị của mỗi BVQG được đánh giá trên nhiều phương diện. Trước hết là tính độc bản, quý hiếm và tính xác thực, cùng những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, khoa học và tư liệu. Có những hiện vật là đỉnh cao của nghệ thuật cũng có những hiện vật lưu giữ nguồn tư liệu đặc biệt quý giá, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng của lịch sử, văn hóa dân tộc. Nhiều BVQG đồng thời hội tụ nhiều giá trị, phản ánh sinh động trình độ kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ, đời sống tinh thần và bản sắc văn hóa Việt Nam.

Điểm đặc biệt của những BVQG tại Bảo tàng LSQG không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở tính toàn diện và tính hệ thống. Các bảo vật trải dài xuyên suốt tiến trình lịch sử, từ thời cổ đại (thời dựng nước đầu tiên), trung đại đến cận-hiện đại, tạo nên một bức tranh tương đối đầy đủ về lịch sử dựng nước, giữ nước và truyền thống văn hóa lâu đời của Việt Nam.

PV: Với sự phong phú về loại hình, chất liệu, niên đại như vậy thì việc bảo quản, bảo đảm an toàn cho các BVQG đã và đang được Bảo tàng LSQG thực hiện như thế nào, thưa đồng chí?

ThS Nguyễn Thị Thu Hoan: Hiện nay, các BVQG của Bảo tàng LSQG được lưu giữ tại hệ thống trưng bày và kho bảo quản chuyên dụng. Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các hiện vật, Bảo tàng đã được Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống kho bảo quản chuyên dụng đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an ninh, an toàn và điều kiện môi trường bảo quản. Đồng thời, được bố trí lực lượng cảnh sát bảo vệ mục tiêu thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, kết hợp với hệ thống giám sát và quy trình quản lý, kiểm kê, xuất nhập hiện vật chặt chẽ theo quy định của ngành bảo tàng.

Trong công tác bảo quản, nguyên tắc cốt lõi là tạo lập môi trường bảo quản phù hợp với đặc tính của từng nhóm chất liệu. Ngay từ khi tiếp nhận vào kho, hiện vật được phân loại và bố trí trong các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và thông gió thích hợp trên cơ sở nghiên cứu khoa học và tiêu chuẩn chuyên môn. Quan điểm của chúng tôi là không phải điều kiện hiện đại nhất sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, mà điều kiện phù hợp nhất mới bảo đảm sự ổn định lâu dài của hiện vật. Mỗi loại chất liệu như gốm, đá, kim loại hay gỗ, giấy, vải, sơn son thếp vàng đều có những yêu cầu bảo quản riêng.

Bảo tàng đặc biệt chú trọng bảo quản phòng ngừa, coi đây là giải pháp bền vững và hiệu quả nhất. Thay vì chỉ xử lý khi hiện vật đã xuống cấp, chúng tôi ưu tiên kiểm soát các yếu tố môi trường, theo dõi thường xuyên tình trạng hiện vật và đánh giá các nguy cơ có thể gây hư hại. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tối đa các can thiệp bảo quản trị liệu, giữ gìn tối đa tính nguyên gốc của hiện vật và kéo dài tuổi thọ của các BVQG.

leftcenterrightdel
Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hoan. Ảnh: MINH THÀNH 

PV: Thực tế thời gian qua, tình trạng BVQG bị hư hại vẫn xảy ra một số nơi ở nước ta. Là một người làm việc trong lĩnh vực bảo tồn di sản, đồng chí có suy nghĩ gì trước thực trạng này?

ThS Nguyễn Thị Thu Hoan: Di sản văn hóa nói chung và BVQG nói riêng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ như thiên tai, hỏa hoạn, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nguy cơ mất cắp, xâm hại hiện vật. Đặc biệt, tại nhiều di tích có quy mô lớn nhưng nguồn nhân lực và điều kiện bảo vệ còn hạn chế, việc bảo đảm an toàn cho BVQG vẫn là một thách thức không nhỏ.

Trong các nguy cơ hiện nay, biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét đến công tác bảo tồn, nhất là đối với các hiện vật trưng bày ngoài trời. Mưa axit, độ ẩm gia tăng, biến động nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm gia tăng tốc độ phong hóa, bào mòn bề mặt hiện vật (chẳng hạn bia đá), dẫn đến sự mai một minh văn (những thông tin lịch sử, tư liệu quý giá), hoa văn và rất khó có khả năng phục hồi.

Thực tế đó cho thấy, bảo vệ BVQG không chỉ dừng ở việc bảo đảm an ninh hay phòng, chống xâm hại, mà cần một chiến lược bảo tồn tổng thể, kết hợp giữa bảo quản phòng ngừa, ứng dụng khoa học-công nghệ (số hóa phục vụ bảo tồn di sản), tăng cường giám sát môi trường và xây dựng các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là giải pháp căn cơ để bảo đảm các BVQG được gìn giữ an toàn và bền vững cho các thế hệ tương lai.

PV: Hiện nay, BVQG đang được lưu giữ ở nhiều chủ thể khác nhau, từ bảo tàng, di tích, cơ sở tôn giáo đến các tổ chức, cá nhân. Theo đồng chí, sự phân tán này đặt ra những yêu cầu gì đối với công tác quản lý và gìn giữ BVQG trên phạm vi cả nước? 

ThS Nguyễn Thị Thu Hoan: Do điều kiện lịch sử hình thành và quá trình lưu giữ khác nhau, điều kiện bảo quản, an ninh và bảo vệ BVQG tại các bảo tàng, di tích, tổ chức, cá nhân khác nhau nên không thể áp dụng một bộ quy chuẩn kỹ thuật duy nhất cho mọi BVQG. Mỗi hiện vật có đặc tính chất liệu, tình trạng bảo tồn, môi trường lưu giữ... khác nhau. Chẳng hạn, hiện vật được bảo quản trong kho có yêu cầu khác với các hiện vật ngoài trời, sự khác biệt về điều kiện khí hậu giữa các vùng miền cũng đòi hỏi các giải pháp bảo quản hiện vật phải được nghiên cứu, thiết kế phù hợp.

Tuy nhiên, điều cần thống nhất trên phạm vi cả nước không phải là một quy chuẩn kỹ thuật cứng nhắc, mà là cơ chế quản lý, định hướng đầu tư và các nguyên tắc chuyên môn, đó là những tiêu chuẩn và nguyên tắc chung (quản lý rủi ro, bảo quản phòng ngừa, kiểm kê, an ninh...), áp dụng các hướng dẫn chuyên môn thống nhất nhằm bảo đảm hiệu quả trên phạm vi toàn quốc nhưng các thông số kỹ thuật cụ thể (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng...) phải được xây dựng riêng cho từng chất liệu, loại hình hiện vật và môi trường lưu giữ. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo quản; đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác bảo tồn; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ trong quản lý, giám sát hiện vật.

Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã có những quy định riêng đối với BVQG, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường công tác quản lý và bảo vệ loại hình di sản đặc biệt này. Cùng với đó, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị đang trực tiếp lưu giữ BVQG đã triển khai chế độ kiểm kê, đánh giá định kỳ và báo cáo hằng năm về tình trạng bảo tồn. Đây là cơ sở quan trọng để theo dõi diễn biến hiện trạng của từng hiện vật, kịp thời phát hiện nguy cơ xuống cấp và đề xuất các giải pháp bảo quản phù hợp, góp phần bảo vệ an toàn và phát huy bền vững giá trị của BVQG.

leftcenterrightdel

Bảo vật quốc gia "Ngai vua triều Nguyễn" được trưng bày tại điện Thái Hòa (TP Huế) sau khi được phục dựng. Ảnh: XUÂN ĐẠT  

PV: Theo đồng chí, cùng với việc bảo tồn, gìn giữ thì cần phải làm gì để phát huy giá trị, đưa các BVQG đến gần hơn với đời sống đương đại, đặc biệt là công chúng trẻ?

ThS Nguyễn Thị Thu Hoan: Kinh nghiệm cho thấy muốn bảo tồn thì phải phát triển, muốn phát huy được giá trị thì phải có trách nhiệm bảo tồn, quản lý tốt BVQG. Bên cạnh những giá trị giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc thì các BVQG sẽ trở thành nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, phát triển kinh tế đất nước.

Vừa qua, Bảo tàng LSQG đã xây dựng bảo tàng ảo 3D, tổ chức triển lãm về BVQG, tour du lịch chuyên đề kết nối di sản, đưa BVQG đến gần hơn với công chúng thông qua nhiều hình thức tiếp cận khác nhau. Các hình thức này tạo sức lan tỏa đối với giới trẻ. Từ thực tế đó, theo tôi, thời gian tới, cần phải đẩy mạnh chuyển đổi số hướng tới xây dựng một hệ thống dữ liệu số đầy đủ, chuẩn xác về BVQG, trong đó, phân loại các BVQG với mã định danh riêng, thông tin sâu hơn. 

Việc số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu 3D có ý nghĩa rất quan trọng. Những BVQG được ưu tiên quét 3D với độ phân giải cao nhằm lưu giữ dữ liệu gốc một cách đầy đủ nhất. Đây không chỉ là nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu mà còn là giải pháp phòng ngừa rủi ro, giúp bảo tồn, phục dựng hiện vật khi cần thiết. Chuyển đổi số cũng mở ra nhiều cách tiếp cận mới, chẳng hạn như trưng bày ảo 3D, thực tế tăng cường (AR) và xây dựng không gian trải nghiệm chìm đắm (immersive experience), giúp hiện vật cất tiếng nói bằng chính những giá trị vốn có.

Ngoài ra, có thể phát triển các hình thức tương tác mới trên nền tảng số, trong đó có ứng dụng công nghệ trò chơi. Mục tiêu cuối cùng là đưa BVQG đến gần công chúng bằng những trải nghiệm hiện đại, nhưng vẫn bảo đảm tính khoa học và giữ gìn trọn vẹn giá trị của di sản.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

THANH MINH - XUÂN THỨ (thực hiện)