Con Tàu KN 491 rời bến khi mặt trời còn chưa kịp nhô lên khỏi đường chân trời. Đất liền chậm rãi lùi xa sau màn sương sớm, còn phía trước là đại dương mênh mông với những lớp sóng nối nhau đến vô tận. Giữa khoảng không chỉ có trời và nước ấy, tôi chợt nhận ra Trường Sa không chỉ cách đất liền bằng hải lý, mà còn được đo bằng sự hy sinh, lòng quả cảm và tình yêu Tổ quốc của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ và người Việt Nam.
Trong nhiều ngày lênh đênh giữa biển khơi, đoàn công tác của chúng tôi lần lượt đến với các đảo và điểm đảo thuộc đặc khu Trường Sa: Trường Sa, Đá Tây A, Thuyền Chài, Phan Vinh, Tiên Nữ, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Đá Lớn, Nam Yết, Sơn Ca và Đá Nam. Mỗi hòn đảo hiện lên như một cột mốc sống giữa trùng dương, nơi màu xanh của cây lá, màu trắng của san hô và sắc đỏ của lá cờ Tổ quốc hòa quyện thành bức tranh vừa bình yên, vừa thiêng liêng.
    |
 |
| Đoàn công tác biểu diễn văn nghệ cùng bộ đội trên đảo. |
Ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là Trường Sa và Đá Tây A, nơi có những gia đình dựng xây cuộc sống giữa bốn bề sóng gió. Những mái nhà nép dưới bóng cây bàng quả vuông, tiếng trẻ thơ ríu rít trên sân đảo, khói bếp mỏng bay lên trong nắng sớm... tất cả khiến nơi đầu sóng không chỉ là điểm tựa bảo vệ chủ quyền mà còn là một phần máu thịt của đất nước.
Trên mỗi hòn đảo, đoàn công tác đều mang theo những phần quà từ đất liền gửi tới quân và dân Trường Sa. Có hôm biển động dữ dội, tàu không thể cập cầu cảng, những chuyến xuồng nhỏ vẫn miệt mài vượt sóng đưa từng kiện hàng vào Nam Yết, Sơn Ca. Đứng trên boong tàu nhìn những con sóng bạc liên tiếp dựng lên rồi tan vỡ, tôi chợt hiểu rằng có những khoảng cách tưởng như không thể vượt qua, nhưng tình yêu của đất liền dành cho Trường Sa luôn tìm được con đường để đến đích.
Giữa mặn mòi gió biển, điều khiến tôi xúc động hơn cả là những khoảng xanh được chắt chiu bằng sự nhẫn nại. Nước ngọt quý như vàng, từng gáo nước vo gạo, từng chậu nước rửa rau sau sinh hoạt đều được giữ lại để tưới cây. Nhờ vậy, những luống rau muống, mồng tơi, rau ngót vẫn xanh non dưới nắng gắt; những giàn bầu, bí vẫn đơm hoa, kết trái; những quả dưa vàng, dưa hấu vẫn lớn lên giữa biển mặn. Màu xanh ấy không chỉ nuôi dưỡng đời sống nơi đảo xa mà còn là biểu tượng của sức sống Việt Nam, càng khắc nghiệt càng bền bỉ vươn lên.
Tiếng chuông chùa ngân lên giữa biển rộng. Âm thanh ấy tan vào gió, hòa vào tiếng sóng, rồi lan xa đến mức người ta có cảm giác cả biển trời cũng đang lắng nghe. Trong khoảnh khắc ấy, ranh giới giữa đất liền và đảo xa dường như không còn nữa. Chỉ còn một dải non sông nối liền bằng lịch sử, văn hóa và niềm tin.
Nếu tiếng chuông chùa đem đến sự tĩnh lặng thì những đêm giao lưu văn nghệ lại mang đến hơi ấm của đất liền. Sân khấu chỉ là khoảng sân nhỏ trên đảo. Tiếng hát của các nghệ sĩ Hải Yến, Lâm Tới, Hải Đăng, Diệu Đan... hòa cùng tiếng hát mộc mạc của các chiến sĩ hải quân. Không còn khoảng cách giữa nghệ sĩ và người lính, giữa người từ đất liền và người nơi đầu sóng. Mỗi bài ca như một nhịp cầu vô hình nối những trái tim đang cùng hướng về Tổ quốc.
Tôi còn nhớ rất rõ ánh mắt của một chiến sĩ trẻ khi cả sân đảo cùng cất lên bài hát về Trường Sa. Cậu hát, đôi mắt sáng rực. Có lẽ ở nơi đầu sóng, mỗi ca từ đều mang một ý nghĩa khác. Đó là lời ca chứa đựng lời hứa với đất nước, với đồng đội và với chính mình.
Những ngày ở Trường Sa trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Nhưng càng đi, càng gặp, càng trò chuyện với quân và dân trên đảo, tôi càng nhận ra rằng đằng sau những nụ cười bình dị là biết bao hy sinh lặng thầm. Ở đây, có người đã nhiều năm chưa được đón Tết cùng gia đình. Có người chỉ được nhìn con lớn lên qua màn hình điện thoại. Có người dành cả tuổi trẻ giữa bốn bề sóng nước, coi tiếng còi tàu, tiếng gió và tiếng sóng như nhịp sống quen thuộc.
Điểm chung của họ mà tôi biết được đó là không nói nhiều về những gian khổ của mình. Bởi với họ, canh giữ biển trời Tổ quốc không phải là sự lựa chọn để được ngợi ca, mà là một bổn phận tự nhiên như hơi thở. Có lẽ chính sự bình dị ấy mới làm nên vẻ đẹp lớn lao của Trường Sa.
Bài và ảnh: LÊ HÀ