Bẵng đi, hơn 10 năm sau, chị gửi tặng tôi cuốn tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy” (năm 2015), nhân dịp chị tiễn con gái đầu đi du học tại Mỹ. Chị bảo, tiễn con đi, chị chỉ đưa cho con mình 3 cuốn sách:

- “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, để “con mãi yêu tiếng Việt”.

- Trường ca “Kể chuyện rong về những ngày có giặc” của tôi, để “con không quên lịch sử bi tráng Việt”.

- Tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy” của chị, để “hiểu phận người, đặc biệt là phận nữ nhi, trong lịch sử Đông Dương hiện đại”-mẫu nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết này đã từng bay từ Mỹ về Việt Nam 15 lần để kể chuyện đời mình cho chị viết.

Dần dần, tôi biết thêm, chị còn xuất bản thơ, nhiều tiểu thuyết, truyện ký và kịch bản phim khác.

Mới đây, chị gửi tặng tôi tập trường ca “Hoa của nước”-viết về những người phụ nữ Việt Nam anh dũng trong chiến tranh chống Mỹ và hậu chiến-mà để xuất bản nó, mẹ con chị và đồng sự đã trải bao công phu khi quyết định xuất bản dưới hình thức song ngữ Việt-Anh.

leftcenterrightdel

  Nhà văn Trầm Hương. 

Ban đầu, chị gửi sang cho con mình bản dịch tiếng Anh làm từ trong nước. Hai con của chị-con gái đầu lúc ấy sắp bảo vệ luận án tiến sĩ và cậu em trai cũng đang học ở Mỹ-do có tiếng Anh lâu năm, đã trao đổi với các dịch giả trong nước và nhà văn cựu binh Mỹ rất yêu Việt Nam-Bruce Weigl-để chỉnh sửa lại bản tiếng Anh theo mô hình cộng tác và chỉ khi các cộng tác viên cùng nhất trí về sự “hoàn hảo” của bản dịch, nó mới (và đã) được xuất bản. Thật thận trọng và công phu!

Vừa do “thiên chức”, vừa do Trầm Hương là tuyên truyền viên chính của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, nên hầu như mọi tác phẩm chị viết đều là về những chiến công, số phận, thân phận của những người phụ nữ Việt Nam trong và sau kháng chiến. Rất nhiều tác phẩm của chị thuộc thể loại văn học “phi hư cấu”-dùng văn học để viết ra những chuyện có thật, cảm động và vĩ đại của người Việt, của những người phụ nữ Việt, đặc biệt là các anh hùng, liệt sĩ, thương binh.

Trở lại với trường ca “Hoa của nước” của chị. Suốt 40 năm cầm bút, Trầm Hương đã gặp gỡ, ghi chép, trò chuyện với hàng ngàn anh hùng, liệt sĩ, thương binh và những người phụ nữ kháng chiến. Đi từ Nam lên Bắc đã đành, chị còn nhiều lần sang Mỹ tìm gặp nhân chứng và thu thập tư liệu chiến tranh. Chính cuộc đời của những người phụ nữ chị gặp trên “đường thiên lý” ấy đã làm chị không thể không viết “Hoa của nước”-“Hoa thủy sinh”.

Thiên hạ đều nói “Người ta là hoa đất”, nhưng Trầm Hương đặt tên cho những người phụ nữ trong trường ca của chị là “Hoa thủy sinh”. Đề từ của tập trường ca, chị viết: “Cảm ơn những bông hoa thủy sinh-cho tôi biết máu trộn bùn có màu gì”!

leftcenterrightdel
    Ảnh bìa cuốn trường ca "Hoa của nước".    

Chị viết về nữ liệt sĩ Nguyễn Thu Thủy. Chị Thủy quê ở Cao Bằng, tốt nghiệp bác sĩ ở Liên Xô, về nước thì tham gia ngay vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngày 17-2-1979, chiếc xe chở chị bị phục kích ở ngã ba Tam Lung, Cao Lộc, Lạng Sơn, cách biên giới chừng 5 cây số. Khi mất, trên người chị vẫn là tấm áo tự cắt may và trong túi còn nguyên đôi tất mẹ chị dúi vội vào, vì “trên ấy đang lạnh”! Bây giờ, mộ chị nằm ở Nghĩa trang Liệt sĩ Lạng Sơn, ngập giữa muôn vàn bông xuyến chi-hóa thân của chị- “Đi học xứ người chắt chiu từng đồng-mua đài cho cha-mua xe đạp cho em-mua len cho mẹ... còn chưa kịp mua chiếc khăn voan cho ngày vui... chiến tranh ngáng đường đôi trai gái lên giường cưới”!

Chị viết về nữ thương binh Phạm Thị Mai-Tám Tiệm. Chị Mai bị bắt khi lộ hầm bí mật; bị địch đánh, cắt nhiều lần đến cụt cả hai chân. Hòa bình, chị nhận một cô bé 3 tuổi bị bỏ rơi về làm con nuôi, rồi chị “bí mật” có thêm một người con đẻ và bây giờ, trên chiếc xe lăn, chị là chủ một trang trại thanh long 12.000m2, xây nhà để chứa tiếng cười của hai cô con gái. Làm sao mà người phụ nữ có thể không mong tiếng cười con trẻ quanh mình, dù từng ra sống vào chết? Cả tư cách anh hùng và tư cách làm mẹ đều bất diệt - “Mẹ ơi! Ai lấy con bây giờ... - Con mang thai 9 tháng 10 ngày - Mẹ mang giùm con suốt đời gánh nặng” - mẹ con chị Tám Tiệm đã nói với nhau như vậy.

Chị viết về liệt sĩ biệt động Phạm Thị Chinh, quê ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội-17 tuổi vào Đảng, làm Trạm trưởng giao liên đưa cán bộ ra vào thành. Pháp bắt chị, tra tấn dã man ở bót Liễu Giai. Ra tù, cấp trên chuyển chị vào hoạt động ở Sài Gòn, kết hôn với bạn chiến đấu Trần Văn Lai-Mai Hồng Quế, quê ở Thái Bình (sau được phong Anh hùng LLVT nhân dân). Hai vợ chồng đóng vai nhà thầu khoán giàu có rồi lấy chính nhà mình đào hầm kín, chứa vũ khí cho biệt động ta đánh thành. Sau đảo chính Diệm (năm 1963), anh chị đứng ra bảo lãnh cho hai cán bộ cao cấp của Đảng từ Côn Đảo về là ông Phan Trọng Bình và ông Phạm Quốc Sắc. Việc bại lộ, chị Chinh bị bắt giam và tra tấn mãi. Năm 1964, chị mất...

leftcenterrightdel
Hình ảnh những loài hoa trong trường ca "Hoa của nước". 

Cứ như vậy, Trầm Hương viết về “Hoa thủy sinh” trên khắp đất nước. Đó là hoa thủy tuyết, thủy liễu, mắm, đước, vẹt, muống biển, tràm, lác; hoa nhút, sen, súng, lục bình, dây chiều, đào, mai... Các loài hoa của chị đều tượng trưng cho phẩm chất, phẩm cách, thân phận, số phận những anh hùng ấy, đã phong tặng hoặc chưa phong tặng, hữu danh hoặc vô danh-những bông “Hoa thủy sinh” “lấy thân mình làm cầu chuyển thương binh-lấy thân mình chở che đồng đội-giấu nhan sắc mình dưới tấm khăn nâu... dọc theo các cụm bến đón tầu không số hàng ngàn người hy sinh-trùng trùng linh hồn-trùng trùng nước mắt-bến với thuyền cùng đau!”. Họ biết “để lộ bí mật là mất tất cả-bí mật cả từ hẹn hò gặp gỡ yêu đương” và “bí mật đi cùng hàm oan-chồng không về, bất chính, thai hoang-lầm lũi trở về bắt ốc nuôi con”.

Họ đẹp thế, thơm thảo thế, cả khi bị “vùi xuống bùn, thanh xuân, xương máu”, vẫn và đã, “biến hình thành gương”! Bao người trong số họ đã “nhận bất hạnh về mình-trao may mắn duyên tình cho kẻ khác-tuổi thanh xuân nào muốn đi tu-phải vào chùa làm nhiệm vụ-hòa bình về, chồng con hy sinh hết-giờ mẹ mới tu thật đây!”.

Rồi chị viết về tre, về dừa-“chú tôi giấu mình trên đọt dừa ngày đồng khởi-cháu tôi bị trói dưới gốc dừa, chết còn rất trẻ-cô tôi hy sinh dưới gốc dừa ở tuổi đôi mươi... xào xạc rừng dừa khua lá bung như gươm tỏa-người hồn hậu viết nên trang nghĩa khí-đuốc đỏ đường làm mồi cơn bão lửa-đất nước này, linh khí tung hoa”. Rồi chị viết về phụ nữ thời hậu chiến, thời bao cấp, thời nay.

Thật khó mà nói hết công phu và tâm tình tác giả trong một bài báo ngắn! Tôi đọc mà lòng ngổn ngang ký ức chiến tranh, chan chứa sự kính yêu và thương cảm trước những bông “Hoa thủy sinh” đất Việt của chị.

Chị không “khoe” tài làm thơ mà chị đằm thắm, nhân hậu và cả quyết góp công sức mình làm cho người Việt thêm nhớ chăm bẵm cái đạo lý gốc-“Uống nước nhớ nguồn”. Đạo lý ấy góp phần làm thành văn hóa Việt và trải ngàn đời, đã là một phần của văn hiến Việt.

ĐỖ TRUNG LAI